MƯỜI TIÊU CHUẨN
CỦA MỘT ĐỜI SỐNG LÝ TƯỞNG
VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆNThích Nhật Tuệ6.Tiêu chuẩn về người thiện chí cho bạn bè – khả lạc, khả hỷ, khả ý :(Tiếp theo NS 47 và hết )
Nếu như ở tiêu chuẩn 4, đời sống hạnh phúc lý tưởng có được của con người là lo trau giồi nhân cách và xa lánh những bạn bè, những môi trường có đời sống đạo đức thấp kém để tránh ảnh hưởng không tốt có thể đem lại, thì ở tiêu chuẩn 6 này, Đức Phật dạy con người lý tưởng còn là con người sau khi hoàn thiện chính mình rồi còn hoàn thiện cho tha nhân và bạn bè . Hoàn thiện cho chính mình thôi chưa đủ, chỉ là lý tưởng của một chủ nghĩa cá nhân hoàn thiện –chưa phải là mục đích cuối cùng của cuộc sống . Con người sống không chỉ là một mình, thế nên hoàn thiện nhân cách cũng cần nên có mặt với sự toàn diện cho toàn nhân loại . Nguyên tắc này vô cùng có lợi cho xã hội được thiết chế trên một tinh thần mang tính nhân bản cộng đồng . Nó là mẫu xã hội lý tưởng của một cộng đồng nhân loại lý tưởng nếu như ai cũng sống với tinh thần tương thân tương trợ để cùng toàn thiện . Nhưng dù sao tác dụng ít ỏi mấy đi nữa của lối sống lý tưởng này vẫn là một điều cần thiết cho bất kỳ một ai đang hiện hữu và sống trong một cộng đồng nhân loại chưa hoàn thiện với nhiều phần tử được hợp thức hoá chiếu cố và nâng đỡ .
Hãy buông xả những tâm lý, xấu xa ra khỏi con người của mình, hãy là yếu tố cho nhau, hoàn thiện cho nhau với những đức tính thẳng thắn trung thực không lừa dối.. và chia sẻ để cùng nhau tiến hoá .
7.Tiêu chuẩn về nhiều kiến thức khả lạc, khả ý :
Phật giáo luôn dạy con người phải hoàn thiện chính mình trên cơ sở học hỏi và trau dồi kiến thức . Xã hội chung quanh ta luôn phát triển với nhiều phát minh khoa học hiện đại . Con người xã hội phải hoà mình trong nhịp tiến chung của toàn cầu để nắm bắt hàng nguồn thông tin kiến thức . Không luôn luôn trau giồi học hỏi thêm mà chỉ biết thoả mãn với những gì đạt được, được xem là một sự thối bộ, trong ý nghĩa tuyệt đối . Những thành quả đạt được của ngày hôm nay sẽ là lạc hậu nếu như chúng ta chỉ biết an phận mãi mãi tại đó . Tiềm năng tri thức con người là vô hạn, biết khai thác đúng lúc, đúng mức, ta sẽ trở thành toàn trí như các bậc A La Hán, Bồ tát và Phật đã toàn tri . Có một tấm gương rất đáng để chúng ta học hỏi là các vị Thánh Thanh văn, A la hán vẫn còn phải trau giồi học hỏi thêm hạnh Bồ tát để thành Bồ tát trong tương lai và các Bồ tát luôn phấn đấu để thành Phật –bậc tuệ giác viên mãn, ngay cả bản thân Đức Phật luôn sống với sự giáo hoá chúng sanh và làm lợi ích cho sanh loại . Các vị A la hán không an phận ở Hoá thành mà phải vươn tới Bảo sở, và tất cả chúng ta cũng không thể an phận với sự an phận của một gã cùng tử tha phương cầu thực, đặng chút ít cho là đủ, mà phải là "ông trưởng giả"û giàu có . Do đó, "không học hỏi, không tu tập luôn luôn sẽ làm trở ngại cho kiến thức và tu chứng", mà không một ai được quyền dừng lại, nếu muốn có một đời sống lý tưởng nhất .
8.Tiêu chuẩn về trí tuệ khả lạc, khả hỷ, khả ý :
Theo đạo Phật, hạnh phúc không chỉ đơn thuần một chiều ở của cải vật chất, hưởng thụ vật chất mà còn là tinh thần, trau giồi tinh thần, nhưng là tính trau giồi tinh thần, nhưng là tinh thần của thẩm mỹ đạo đức . Một con người toàn diện, lý tưởng phải là người trước nhất trọn vẹn về thẩm mỹ đạo đức tinh thần; và sau là giàu có về đời sống vật chất có thể bỏ qua nhưng yếu tố đầy đủ thẩm mỹ đạo đức tinh thần là không thể thiếu ở một con người toàn diện . Thật ra, theo đạo Phật trí tuệ của con người là kết quả của quá trình tu tập sau khi nghe và tư duy kiểm nghiệm (văn-tư-tu) hoặc nó còn là kết quả đạt được do tu tập thiền định, gạn lọc tâm ý- bỏ những tâm ý xấu, bất thiện ra khỏi con người, chỉ để lại những tâm ý tốt, tiện lợi cho đời sống tâm linh . Do đó trí tuệ cũng chính là kết quả kết tinh của giới –định –tuệ . Trong chiều kích tuyệt đối, trí tuệ là những gì siêu tuyệt hơn nhiều so với kiến thức . Một con người có đầy đủ kiến thức cũng đã là một người giàu có về tinh thần trong cuộc sống, nhưng người có trí tuệ hẳn sẽ là một người giàu có về tinh thần, nhưng lại giàu có hơn tất cả hệ thống kiến thức . Kiến thức đứng về mặt thế gian nhiều hơn, và trí tuệ thuộc về siêu thế . tuy nhiên, để có được trí tuệ này cũng đâu có khó khăn gì như đã nói . Hoặc ta có thể nói đơn giản mà súc tích :"Khéo nghe, biết hỏi và khéo tu tập là thức ăn cho trí tuệ".
9.Tiêu chuẩn về rõ biết thực tướng các pháp - khả lạc, khả ý :
Pháp (Dhamma) trong ý nghĩa chung nhất của thuật ngữ Phật giáo bao gồm sáu phạm trù (giáo pháp, chân lý, quy luật, khái niệm, hiện tượng và sự vật) . Nhưng pháp trong tiêu chuẩn ở đây là chỉ chung cho mọi sự vật hiện tượng từ những phạm trù, hoặc khái niệm về vật chất cho đến các phạm trù tâm lý của một hữu thể con người . Rõ biết được thật tướng các pháp là rõ biết được bản chất sự biến thiên không ngừng của các hiện tượng tâm lý –vật lý . Tất cả mọi sự vật hiện tượng hiện hữu tuỳ thuộc nhân duyên, và tác động, chi phối qua lại lẫn nhau, không có vật tâm nào tồn tại một cách độc lập đơn điệu . Chúng tương sinh tương duyên theo một quy luật chung nhất :"Cái này có, cái kia có; cái này sanh, cái kia sanh . Cái này không, cái kia không; cái này diệt, cái kia diệt". Đó là quy luật tác hưởng nhân duyên đa chiều . Ngoài ra, đạo Phật còn dạy rõ một sự vật dù là tâm lý hay vật lý, từ lúc đó nhân duyên hình thành đến lúc đó nhân diệt hoại diệt, theo một chu kỳ diễn tiến : sanh- trụ-dị –diệt (vật thể), sanh- lão-bệnh- tử (con người), thành- trụ- hoại- không (thế giới và các tinh cầu) . Tuy nhiên có một điều khác biệt giữa nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáo trong quan niệm này so với các học thuyết và tôn giáo khác ở chỗ là Đức Phật khẳng định :"Các pháp không tự sanh ra, không tự mất đi, hay đúng hơn là không một pháp nào là mất tuyệt hẳn mà chỉ chuyển biến sang một dạng thức vật chất hoặc tâm lý khác mà thôi".
Sự tan rã một hợp thể vật chất ở đây chính là nhân duyên để hội tụ một hợp thể vật chất mới ở một nơi khác . Con người tâm vật lý tan rã hợp thể ở đây không phải là mất hẳn mà là tiếp tục một cuộc tái sanh ở một hợp thể ngũ uẩn khác . Nhưng có điểm giống là dù hình dạng trước hay đã chuyển đổi ở dạng thức sau, nó vẫn theo tiến trình chung là sinh trụ dị diệt mà trong đó tất cả chỉ là một hợp thể nhân duyên luôn biến động : vô thường, vô ngã . Nắm rõ về quy luật vận hành biến thiên của thế giới khách quan của khách thể và của thế giới chủ thể nhận thức là con người, chúng ta sẽ sống an lạc, khả hỷ khả ý hơn . Do đó, Đức Phật dạy :"Không chú tâm, không quán sát là chướng ngại vật cho rõ biết thực tướng các pháp".
10.Tiêu chuẩn về đời sống thiên giới khả lạc, khả hỷ, khả ý :
Thiên giới là thế giới mà ở đó nếp sống thẩm mỹ đạo đức và nhu cầu về nó cao hơn hẳn con người . Tại đó, sự cảm thọ hạnh phúc và nhu cầu sinh hoạt vật chất rất sung mãn . Kinh Nikàya thường đề cập đến rất nhiều về họ với nhiều cuộc tiếp xúc giữa họ và Phật hay các Thánh đệ tử tại nước cổ Aán thời Phật . Sự hiện diện của họ chẳng đem lại sự ngạc nhiên từ chúng đệ tử đã giác ngộ so với óc tò mò muốn khám phá tìm hiểu của con người hôm nay, và nhất là các khoa học gia .
Thông thường, chúng ta cần tu tập học pháp 10 thiện nghiệp ở phạm vi bản thân như : không sát sinh, không cướp đoạt sở hữu quyền, không quan hệ tình dục bất chính, không nói sai sự thật, không nói lời ác độc, không nói lời chia rẽ, không nói lời phù phiếm, không tham lam, không giận dữ nóng nảy và không tà kiến . Mười thiện nghiệp này là điều kiện cơ bản để tái sanh về thiên giới . Ngoài ra, chúng ta cần thực hiện 10 thiện pháp này ở phạm vi có ích cho tha nhân, xã hội như : bảo vệ hoà bình, tôn trọng sự sống; bố thí sở hữu vật trong tinh thần giúp đỡ tự nguyện; tôn trọng hạnh phúc gia đình người khác; nói năng vì lợi ích cho đa số một cách chánh đáng; ngôn ngữ hoà nhã tự ái; ngôn ngữ mang tính đoàn kết, hợp quần, ngôn ngữ trung thực, không điêu ngoa; thực hành hạnh hỷ xả, độ lượng; đời sống từ bi trong trí dũng, không hận thù ân oán; đem đến chánh kiến giải thoát cho cộng đồng .
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể phát triển thuần túy về thiền chỉ và thiền quán, trau dồi phạm hạnh, phát triển tu tập về tứ thiền : ly tham dục, tâm định tĩnh, xả hỷ lạc, xả niệm lạc, sau đó an trú tâm từ không hạn lượng với tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm . Nhân tố thiền định này quyết định một đời sống tương lai ở thiên giới . Tuỳ theo nhân tố tu tập mà kết quả của các thiên giới sẽ khác nhau, dĩ nhiên đời sống tinh thần và vật chất cũng sẽ khác nhau . Đó là những thành quả trong tương lai và ngay hiện tại người có đời sống đạo đức và giới đức như đã được kể sẽ là một con người mang tính thiên giới ở nhân gian; và không chỉ là một thiên giới nhân gian mà đích thực là một tịnh độ nhân gian khả lạc, khả hỷ, khả ý .
Nói chung, điều kiện của thiên giới là chánh hạnh, chánh nghiệp, chánh tinh tấn trong một sự nỗ lực phấn đấu không ngừng trong quá trình hoàn thiện nhân cách trong cuộc sống .
Đó là một mẫu về cuộc sống hạnh phúc, khả lạc, khả hỷ, khả ý mà đức Phật đã đề ra theo kinh điển Nikàya . Vấn đề không có gì là khó thực hiện, và đòi hỏi ở tâm quyết đạt được và tự phấn đấu trau dồi trong tinh tấn không thôi nghỉ . Một cuộc sống đạo đức, có thể nói là tiêu chuẩn nhất mà không một ai không mong muốn để vươn tới , Mục đích của cuộc sống là hạnh phúc và hưởng thọ hạnh phúc, nhưng hạnh phúc ở đây là một thứ hạnh phúc có được từ một cuộc sống do không ngừng trau dồi phạm hạnh và tự hoàn thiện nhân cách . Cuộc sống lý tưởng về mười tiêu chuẩn mà Đức Phật đã vạch ra cho con người là thực tiễn, là thiết yếu, là có thể tự thực hiện để đạt được chứ không là một chủ nghĩa không tưởng của lý tưởng ảo tưởng bất thật .
Vươn tới tiêu chuẩn này, một con người sẽ đúng và xứng đáng với nghĩa con người về hai mặt, một là trở thành một con người toàn diện về vật lý như thân thể cường tráng (tiêu chuẩn 2), dung sắc đẹp đẽ, hài hoà dễ mến (tiêu chuẩn 2); hai là trở thành một con người giàu có về tài sản, đời sống vật chất sung mãn hợp pháp (tiêu chuẩn 1); trọn vẹn về nhân cách về nếp sống đạo đức (tiêu chuẩn 4) . Xa hơn nữa là một con người với cốt cách đạo đức siêu phàm (tiêu chuẩn 5); là người biết học và học rộng nghe nhiều, phong phú kiến thức (tiêu chuẩn 7) thực sự có trí tuệ ,một thứ lý trí do tu tập văn tư tu, do tu tập thiền định (tiêu chuẩn 8), là người rõ được bản chất mọi sự vật hiện tượng từ tâm vật lý đến tâm sinh lý từ vũ trụ cho đến con người (tiêu chuẩn 9) , biết xây dựng thiên giới và tịnh độ tại nhân gian (tiêu chuẩn 10), và còn là một mẫu người lý tưởng có ích cho bạn bè cho tha nhân, cho xã hội hướng đến để cùng thực hiện cùng toàn thiện (tiêu chuẩn 6)
(Theo kinh Bộ Tăng Chi III (A.v 135)trang 423 , bản dịch của HT. Thích Minh Châu, 1988)
Source: Nguyệt san Giác Ngộ số 48
Trang MỤC LỤC
Trang chính