KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG " KHÔNG "
TRONG KINH BÁT NHÃNhàn LiênTự bao giờ, hai tiếng "Sắc không" của Phật giáo đã trở nên quen thuộc với người Việt Nam, nó đi vào dân gian qua những câu ca dao, tục ngữ, và được thể hiện trong văn chương bác học, dứơi ngòi bút của những thi sĩ văn nhân một cách tự nhiên, như nứơc thấm sâu vào lòng đất mẹ . Thế nhưng sự dùng phổ cập hai tiếng "sắc không" này không có nghĩa về phương diện ngôn ngữ, nó là hai từ đơn giản, dễ hiểu và bất cứ người nào dùng nó cũng có thể hiểu một cách thấu triệt được nghĩa ý hàm chứa trong nó . Ngược lại, càng được dùng rộng rãi, phổ cập bao nhiêu, thì nó lại bị những người không am hiểu Phật giáo, hay nói một cách phiến diện – hiểu lầm, hiểu mơ hồ bấy nhiêu . Điều này đưa đến cái nhìn lệch lạc về Phật giáo, cho Phật giáo là siêu hình, là không thực tế, là chủ trương hư vô chủ nghĩa… Để tránh sự định nghĩa sai lầm về Phật giáo, để điều chỉnh được cái nhìn sai lầm của những người không hiểu rõ hai chữ "Sắc không" nhất là chữ "Không" thì nghĩa "Không" phải được hiểu một cách thấu triệt, không chỉ trên bình diện ngôn ngữ mà cả trên bình diện triết học . Sau đây, chúng ta cùng nhau tìm hiểu nghĩa "Không" qua hai bình diện nêu trên để có thể khái quát nó ở mức cao nhất, từ đó ý nghĩa thâm sâu của tư tưởng "không" của Phật giáo, cụ thể là của văn hệ Bát Nhã được bộc lộ toàn diện .Trước hết ta lướt qua bình diện ngôn ngữ thông thường để tìm hiểu nghĩa không theo tự vị.
"Không" là rỗng không – một từ để diễn đạt sự không hiện hữu của một sự vật hay hiện tượng, nó ngược nghĩa với chữ "hữu" và đồng nghĩa với chữ "vô" .
Tuy nhiên, trong giáo lý Phật giáo, chữ "không" không đựơc dùng đơn thuần như định nghĩa về từ vựng của nó ở trên, mà nó được dùng với nghĩa khác, cao hơn trên bình diện triết học . Vì trong triết học Phật giáo, chủ đề "không" là một chủ đề lớn, nếu nói theo từ hiện đại thì nó được gọi là "Bản thể luận" hay "Thực tại luận". Chủ đề này, được thể hiện rõ nhất trong kinh Bát Nhã – đỉnh cao của triết học Phật giáo . Có thể nói kinh Bát Nhã nói về tư tưởng "không"một cách rõ nét nhất, đầy đủ nhất so với các kinh khác trong hệ thống triết học Phật giáo .
Tư tưởng "không" trong kinh Bát Nhã, như trên đã nói không phải cái không đối với cái có, cái không trống rỗng như hư vô, hay là cái không do sự hủy diệt của sự vật mà "không" đây là một ngôn từ biểu đạt lý thực tại "thực tướng tức không" (tức ngay nơi tướng trạng chân thật của vạn hữu là không) . Nói khác đi, từ "không"trong Bát Nhã được dùng để biểu thị tư tưởng "Tất cánh không", hay "Nhứt thiết giai không", trên từ "không" lại phải được hiểu dưới hai góc độ"hiện tượng giới và thực tại giới" .
Dưới hai góc độ này, tư tưởng "không" là một tư tưởng rất năng động nó được thể hiện qua 3 phương diện :
1. Một hữu bất biến tính (căn cứ vào chân tướng, chủ hành vô thường) .
2. Một hữu cố định tính (nương theo chân tướng chư pháp vô ngã) .
3. Một hữu độc tồn tính (căn cứ vào pháp tướng Niết Bàn tịch tĩnh) .
Sở dĩ nói tư tưởng "không" là năng động, căn cứ vào phương diện thứ nhất "chư hành vô thường" là vì thế giới hiện tượng mà chúng ta đang sống, cũng như những sự vật mà ta tiếp xúc hàng ngày đều biến đổi mau lẹ trong từng sát na, mau lẹ đến nỗi những giác quan hạn chế của chúng ta không nắm bắt được và thường nhầm tưởng là ổn định . Heraclite – một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp thời cổ đại đã nhận chân được sự khác biệt, biến đổi trong từng phút giây của vạn hữu nên ông đã chủ trương thuyết biến dịch với câu nói nổi tiếng "Người ta không thể xuống hai lần trong cùng một dòng sông khi mà nước sông luôn luôn trôi chảy, nước của sát na trước không phải là nước của sát na sau và bản thân nó là một dòng chuyển lưu biến dịch . Vạn vật cũng như vậy nó biến đổi trong từng sát na cho nên sự tồn tại của nó là hết sức tương đối" .
Thứ hai, nếu căn cứ vào chân tướng "chư pháp vô ngã" ta cũng thấy được tính năng động của tư tưởng "không" . Bởi vì, dưới góc độ hiện tượng giới, không có bất cứ sự vật nào tự thân chúng có thể tồn tại độc lập riêng lẽ, chúng chỉ có thể tồn tại một cách tương đối trong mối quan hệ tương quan, tương duyên với nhau theo quy luật duyên khởi . "Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không" Có nghĩa là các pháp tùy thuộc vào nhau, chịu đựng kết quả của nhau, làm nhân làm duyên cho nhau mà sanh khởi . Chính vì lý do nhân duyên sinh khởi nên thực tướng của các pháp là không, không có ngã tính . Điều này đã được Đức Phật khẳng định qua bài kệ :
"Nhân duyên sở sinh pháp
Ngã thuyết tức thị không"
Nghĩa :
"Các pháp do duyên sinh
Ta nói đó là không "
Cuối cùng, dưới góc độ của thực tại giới, căn cứ vào pháp tướng Niết Bàn tịch tĩnh, tính năng động của tư tưởng "không" lại càng bộc lộ rõ nét . Chữ không ở đây vượt khỏi mọi khái niệm về "không" dù là "không "ở tầng cao như vô thường, vô ngã như đã trình bày ở trên . Ở mức độ này, nếu ta chưa trút bỏ những tư duy những khái niệm ngôn từ theo logic thông thường để tư duy tư tưởng "không" trong Bát Nhã bằng tư duy triết học, thì ta sẽ ngỡ ngàng không thể hiểu được chữ "không" với nghĩa độc đáo :"có đầy đủ". Chính vì không có gì hết nên có khả năng có tất cả – chân không là diệu hữu, diệu hữu là chơn không . Không ở đây, không phải là cái không đơn thuần, mà là cái "hữu tức không", "hữu" cũng không là cái hữu đơn thuần, mà là cái "không tức hữu" – Đây là triết lý thâm sâu của câu "Sắc tức là không, không tức là sắc" trong Bát Nhã tâm kinh . Hơn nữa, sắc vốn là vật chất, vật chất thì chịu sự chi phối của quy luật duyên khởi nên mang tính vô thường và vô ngã . Đã vô thường, vô ngã thì không mang tính chất bất biến và cố định . Cho nên ngay nơi đương thể của vật chất đã là không (Đương thể tức không), vì thế ta có thể nói ngay nơi sự tồn tại tương đối của vật chất là không, và cũng chính cái không ấy là nơi tồn tại của vật chất . Lý luận này của Bát Nhã có vẻ như mâu thuẫn nhau, nhưng thực tiễn vốn là như vậy . Bởi vì "không" vốn là không định hình, là biến đổi cho nên có thể có ra tất cả như đã nói ở trên . Để diễn đạt ý nghĩa năng động độc đáo này của nghĩa "không" Ngài Long Thọ đã viết :
"Dĩ thử không nghĩa cố, nhứt thiết pháp đắc hành" có nghĩa là :"Do nghĩa không đó mà hết thảy pháp được thành tựu" .
Cũng dưới góc độ thực tại giới thì chữ không trong kinh Bát Nhã còn có nghĩa là "không chấp thủ" Bát Nhã dùng tư tưởng này để phá sự chấp thủ những thiên biến về tương đối sai biệt, để chỉ đến cái "tuyệt đối không" – cái tánh không chân thật của vạn pháp . Như vậy "không chấp thủ" không có nghĩa là tiêu cực, thụ động mà nó có ý nghĩa phát huy một cách trọn vẹn tinh thần tự tại, vô ngại không vướng mắc vào danh tướng của thực tại vì thực tại vốn không thể mô tả bằng ngôn ngữ thế gian, không thể nắm bắt bằng tư duy, khái niệm, thực tại là một cái gì toàn bộ không thể phân chia, là nhất nguyên mà từ vô thì đến vô chung vẫn vắng lặng trong pháp giới trùng trùng vô tận . Kinh Pháp Hoa đã biểu đạt ý này trong hai câu kệ :
"Chư pháp tùng bản lại, thường trụ tịch diệt tướng", nghĩa :" Các pháp từ xưa đến nay, tướng nó thường vắng lặng, chính vì thường vắng lặng, nên các tướng có, không, sinh, diệt, thường, vô thường… là những tướng do ý thức so sánh phân biệt giả định ra . Nếu ta rút hết những tướng ấy ra khỏi các pháp không có tướng gì cả nên gọi là "chư pháp không tướng"Các tướng không này mới chính là thật tướng và thật tánh cho các pháp, cho nên Bát Nhã gọi tánh của vạn pháp là không, nói khác đi là "tánh không" và chữ "không" ở đây như trên đã nói là được dùng chỉ cho thực tại của bản thể hay thực tánh của các pháp . Thật tại này vốn không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, nó là chân không – một cái không tuyệt đối siêu tuyệt, đối đãi nhị biên vốn là "bất khả đắc" . Trí tuệ ngộ được tánh không này là trí Bát Nhã tức trí vô sở đắc hay còn gọi là tuệ không . Bởi vì khi ta thể nghiệm quán"không bất khả đắc"trí không quán khởi lên, nó không vướng mắc tất cứ tướng nào . Nếu đạt được trí Bát Nhã, trí vô sở đắc hay tuệ không nói trên thì ta sẽ soi sáng được chân tướng của vạn hữu . Ngược lại nếu ta khởi lên khái niệm, tương đối sai biệt thì kiến giải ấy được gọi là kiến giải "hữu sở đắc" ngưng trệ nơi kiến giải này ta sẽ không thấy được chân tướng của vạn hữu tức tánh không hay trung đạo thật tướng . Vì cảnh giới thực tướng không thể nương nơi thật tướng phân biệt, tư duy khái niệm hay ngôn ngữ văn tự để lý giải mà phải nương chỗ hội đắc nội tại của chính bản thân mình.
Như vậy qua phần trình bày trên, ta đã thấy rõ được ý nghĩa chữ "không" trên cả hai bình diện ngôn ngữ và triết học . Trên bình diện triết học, tư tưởng không lại được phản ánh qua nhiều cấp độ từ thấp lên cao, từ tướng đến tánh, từ hiện tượng đến bản thể, từ nghĩa không đơn thuần dùng để phủ định tướng trạng của vạn hữu đến nghĩa không phức tạp, dùng để phủ định cái phủ định, tức phủ định cái không đơn thuần để đi đến cái không tuyệt đối, siêu tuyệt khái niệm "sắc không" . Không ở đây có nghĩa là sắc và sắc ở đây có nghĩa là không, "sắc tức là không, không tức là sắc" . Là tư tưởng không cao nhất :"Chân không diệu hữu" trong hệ thống triết học Bát Nhã của Phật giáo . Một thiền sư Việt Nam đời Lý đã nói lên được tính năng động của lý "Chơn không diệu hữu" này qua 2 câu thơ :
"Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không"
( Trích thơ văn Lý Trần )
Có nghĩa là :
" Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này đều không "
Theo triết lý không của Ngài Long Thọ cũng là văn hệ Bát Nhã thì mọi sự vật trong hiện tượng giới đều do duyên sinh không có thực thể, do đó không thể nói có, không thể nói không, bởi vì nó vừa là cái màn che, nhưng đồng thời cũng là dấu hiệu qua đó ta tìm thấy thực tại . Vì thế, chấp có hay chấp không đều sai, đều không đạt được thực tướng của các pháp, cho nên bị sự vô thường, vô ngã của các pháp chi phối làm khổ đau, trong sự chấp trước mê lầm . Nếu chúng ta dùng lý "không"(lý) để quán chiếu vạn pháp (trí) có nghĩa là dùng trí chiếu lý thì ta sẽ thấy rõ mọi sự vật ở hiện tượng giới đều là không, không có thực thể không đáng cho ta tham muốn, bám xíu chấp thủ cho là của mình . Nhờ quan sát thấy mọi sự vật trong hiện tượng giới là không mà trí tuệ Bát Nhã phát khởi, ta có thể từ bỏ được ba độc tham, sân, si – những căn bản phiền não – để được giải thoát . Ngài Long Thọ nói :"Giải thoát được thành tựu nhờ diệt trừ được mọi hành vi vị kỷ và dục vọng". Mọi hành vi vị kỷ và dục vọng đều do tâm thức chúng ta tưởng tượng thi thiết ra một cách sai lầm, nên ta chấp những vật, những điều không có giá trị thành ra giá trị . Nay nhờ quán không mà tư duy thôi không tạo tác hoạt động sai lầm nữa nên ta được giải thoát .
Tóm lại, nếu nhìn tư tưởng không của Bát Nhã dưới hai góc độ, hiện tượng giới và hiện tại giới như đã nêu trên thì ta chỉ có thể khái quát tư tưởng "không" này trong một mệnh đề ngắn gọn, nhưng súc tích và thâm áo, ảo diệu :"Sắc tức thị không, không tức sắc" . Đấy là thực tại là chân lý tuyệt đối mà chúng ta không thể mô tả hay diễn đạt được . Điều mà Ngài Long Thọ đã nói rõ trong bài kệ "Bát bất" nổi danh mở đầu tác phẩm "Trung luận" của mình :
Không sanh cũng không diệt
Không thường cũng không đoạn
Không một cũng không khác
Không đi cũng không đến
Thế nhưng nói thực tại hay chân lý tuyệt đối, hay bản thể tánh không, chân như… là không thể mô tả, diễn tả điều đó không có nghĩa là ta không thể chứng được thực tại ngộ được tánh không ta vẫn có thể chứng được thực tại, ngộ được tánh không khi ta dùng lý không và trí vô sở đắc để soi sáng và biểu ngộ được vạn pháp .
Nếu thực hành một cách miên mật được như vậy thì chắc chắn sẽ có ngày ta sung sướng thốt lên những lời tương tự như Tổ Huệ Năng khi Ngài ngộ được tánh không :
"Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
Nào ngờ tự tánh vốn không sanh diệt
Nào ngờ tự tánh vốn tự đầy đù
Nào ngờ tự tánh vốn không lay động
Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp"
Khi đó ta hoàn toàn tự tại vì đã thấu triệt về lý vô thường, thông được lý vô ngã nên không còn bị quy luật biến chuyển, vận động của nó chi phối làm khổ đau, ta hoàn toàn bình thản an lạc trước mọi thay đổi của cuộc đời . Đây chính là trạng thái Niết Bàn theo nghĩa đích thực của nó . Và như thế thì nghĩa giá trị của tư tưởng "không" trong kinh Bát Nhã là một điều không thể phủ nhận . Nói như vậy không phải chúng ta cường điệu hoá, phóng đại hoá khả năng của mình, mà đây là điều Đức Phật từng khẳng định :" Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh" Có nghĩa là tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật . Vấn đề là chúng sanh (trong đó có chúng ta) phải biết chuyển khả năng ấy trở thành hiện thực . Phương pháp để chuyển khả năng thành hiện thực một cách mau chóng nhất chính là sự tu tập "lý không" quán sát vạn pháp là không với trí Bát Nhã . Tu tập miên mật như thế thì chắc chắn quả giải thoát sẽ nằm ngay trong tầm tay với của chúng ta vì "Độ nhứt thiết khổ ách" chính là kết quả tất yếu của sự quán "ngũ uẩn giai không" của vị Bồ Tát "hành thâm Bát Nhã Ba la mật vậy ". ( Pháp Bảo Đàn) Source: Nguyệt san Vô Ưu số 5
Trang MỤC LỤC
Trang chính