ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ ĐỨC TIN
Lưu Vô Tâm
Con người ta do tin vào các công thức, thành quả khoa học, hệ thống công nghệ, khí cụ, máy móc thiết bị v.v… Làm phương tiện nghe, nhìn và tư duy mới tin được những việc chưa làm, những nơi chưa tới, những mùi vị âm thanh chưa nếm, chưa nghe . Như tin có các tầng khí quyển, tin có tầng điện ly, tin có khoảng không bao la cách mặt đất hàng 100 km trở lên thì như là chân không và tối đen thăm thẳm, rồi tin vào trái đất hình cầu dạng elíp và quay quanh trục của mình và lại quay quanh mặt trời v.v… và v.v..

Đó chính là "nhân" tin mới có "quả" hiểu biết như thế . Cũng vậy, mọi người tin vào nghĩa kinh, ý kinh trỏ tới, bởi kinh Thánh là những lời chỉ dạy của các bậc Thánh nhân . Họ là những bậc có đức hạnh tuyệt luân, có tuệ giác siêu quần, công đức trọn vẹn, hoàn toàn thân-khẩu-ý đều là những bậc "vô ngã vị tha", "cứu nhân độ thế" mà giấy mực của thế gian không đủ lời để tán thán . Dựa vào tuệ giác của con người mới có thể tin hiểu vào những điều chưa rõ, những nơi chưa tới, những việc chưa làm . Như hiểu rõ ba thời, tin có các tầng trời, có ba cõi, có nhân quả, có luân hồi nghiệp báo, lại tin có Niết Bàn-Giải thoát và đặc biệt tin vào những cách thức, phương tiện để đi từ thấp lên cao, từ cõi khổ tới nơi đoạn tận khổ chỉ có vui, từ chỗ ngu muội tới chỗ thấy, biết, hiểu hoàn toàn sự sự, lý lý của vạn hữu ba thời… Do tin hiểu được như thế, cho nên mọi người cảm tạ công đức của Chư Thánh, lại hăng hái quyết tâm hành trì bền bỉ các phương cách đã được dạy truyền, một mặt tự nâng mình lên cả đức – trí, một mặt không quản ngại khó công đức giúp đời ngày thêm lành mạnh, yên vui . Rồi đạt được điều quý hiếm bậc nhất : Thân còn là phàm nhân mà trí hiểu và sự thấy biết của bậc Thánh .

Đó chính là ‘nhân" đức tin mới được "quả" công đức nhường ấy . Bởi thế, có ít phương tiện nghe nhìn, thì sự thấy biết ít, có nhiều phương tiện đại nghe nhìn, thì sự thấy biết cao hơn . Cũng vậy, đức tin thấp mỏng, gián đoạn, thì chẳng đạt được công đức nào đáng kể . Đức tin càng cao, thì công đức càng lớn, có thể thấy biết và làm được những việc phi thường .

Tin là tín, là tin ở mình (tín lực), tin ở ngoài (tín tha), tin ở nhân, tin ở quả, tin ở sự, tin ở lý . Thế nào là tin ở mình, tin ở người, tin ở nhân, tin ở quả, tin ở sự, tin ở lý? Điều này chắc mọi người đã rõ cả . Chúng tôi chỉ nhắm tới một điều duy nhất, đó là : Tin Phật là đấng Toàn Trí, là đấng Toàn Bi và là đấng Đại Năng, là thầy thuốc ưu tú nhất của ba cõi, là bậc đạo-sư-vô thượng của muôn loài…; đó là tin mình có sẵn đủ Phật tính – như lời Phật dạy để "tự tin mình sẽ thành Phật" mà "lập chí muốn thành Phật" rồi "tự nguyện sẽ thành Phật" để dồn hết tâm lực "tu hành thành Phật" (Tín –Nguyện –Hành).

Điều chúng tôi muốn đề cập, là các nấc độ đức tin .

Khi kiểm lại chính bản thân mình, cùng một số người quen biết, chúng tôi thấy rằng : Có tới dăm bảy năm, từ khi biết đạo Phật, biết về Đức Phật, tự quy y Tam Bảo và phát nguyện tu hành, độ mình độ người .

Nếu không tự ý, tự phản tỉnh, tự nhìn nhận để tự giáo dục chính bản thân mình (khắc kỷ) thì chẳng có một sự tinh tiến thực sự nào cả . Như vậy, làm sao có thể coi là người có nhân đức được mà dám nhận! Lại nữa, đi từ sự hiểu biết sâu rộng và nhận thức đúng đắn mới có được những ý nghĩ Chân thiện, rung cảm Chân thiện rồi hành thiện là cả một quá trình đào luyện gian khổ . Đâu cứ học rộng biết nhiều là có ngay được điều đó . Các bậc tiền nhân xưa đã nêu ra lời khuyến dụ :" Học Bác, Thuyết Chính" là ở cái nhẽ như vậy . Những người đã nghiêm túc tu học thì quá rõ sự đó . Và cũng đều thấy rằng, quả là trong việc dẫn đạo " Kỵ, nhất là kiến văn tự mà dẫn chứng", trong việc tu – tập thì "đầu óc tư lương phân biện còn làm chướng ngại cho đạo hơn rắn độc, hơn hổ dữ" là một thực tiễn sống động không thể chối cãi . Vậy nên mọi người hãy chuyên chú vào thực hành "Thập thiện" mọi nơi, mọi lúc, trong ý nghĩ, lời nói, việc làm khi biết tới điều đó, cho tới khi đứt hơi thở ở đời này . Làm được như vậy, là quý hiếm lắm .

Vậy nên, chúng ta phải tự lo cho mình trước nhất cái đã . Khi chú tâm, thành tâm, không gián đoạn miệt mài tu học đúng pháp, có được sự tinh tiến nhất định, tự khắc ta không những tự giúp được mình mà còn giúp được nhiều người thực thụ . Tránh đi cái nạn "thừa thầy thiếu thợ" như hiện nay ở Việt Nam, cũng như trong bổn đạo .

Những người có tâm huyết với dân tộc, với đất nước, với bổn phận đạo, với loài người, đều rất đỗi lo ngại trước những căn bệnh của xã hội của con người . Một trong những căn bệnh trọng đó, là thực tế những thái độ sống (chiếm khá đông) đang gặm nhấm đức tin và đe dọa hạnh phúc của con người, gia đình và xã hội- hiện nổi lên cuồn cuộn như thác, như lũ . Đó là :

Thói sống ích kỷ, kiêu ngạo, thiếu quan tâm tới người khác .

Sự tôn thờ tiền bạc, quyền lực, danh tiếng thái quá.

Sự coi thường các giá trị đạo đức, làm mất các giá trị tình cảm tốt đẹp của đời sống v.v…

Căn bệnh này, nguy hiểm ở chỗ, nó len lỏi ở khắp mọi nơi, vì vậy cần phải tập trung chữa trị nếu không, thế giới này, con người sẽ tự nhấn chìm nhau trong tranh giành, thù hận đố kỵ, mặc cảm v.v… Là người Phật tử, chúng ta soi lại xem còn chút chi dính dáng tới căn bệnh đó không, dù là nhỏ nhất cũng phải ra công mà dứt trừ để thanh tịnh thân tâm mình .

Khoa học càng phát triển, càng minh chứng cho những lời Phật dạy là chắc đúng hoàn toàn . Tất cả những nỗ lực của con người, những thành quả của công nghệ, khoa học tiên tiến tinh vi v.v… Xét cho cùng đều chỉ là những phương tiện phục vụ cho việc thấy, biết, hiểu của con người để quay lại phục vụ cho hạnh phúc của con người . Ta chỉ xét riêng về mặt xuống sâu, nhìn xa, trông rộng, hiểu biết của tất cả những thành tựu đó cho tới nay, thấy sao mà quá thấp kém vậy . Mới là một hạt bụi so với cả trái đất này, một giọt nước so với đại dương trí tuệ của Phật quả . Chúng ta tin Phật, nương theo giác độ thấy biết cuả Chư Phật, nhìn thông cả ba thời, tỏ cả ba cõi và toàn bộ sự sự, lý lý của vạn hữu hình, vô hình, hữu tình, vô tình . Mà không dừng tại đó, nương theo các phương cách Chư Phật, Chư Tổ chỉ dạy, chúng ta tu thân, tu tâm, tồn dưỡng tính, minh tâm kiến tính . Mà hiện tại thì được thư thái, an bình, ít bệnh, yêu người, giúp người nên được người mến người tin . Cao lên những ai tu tập đúng pháp, tinh tấn thật sự, thì sự tự thấy, tự biết, tự hiểu cũng được tăng cao ngoài sức tưởng tượng . Phàm những ai tu Thiền, hành Thiền đúng pháp, sau một giai đoạn nhất định, tự rõ được điều đó . Không những thân thể khỏe mạnh, gần như vô bệnh tật, mà sự thấy biết và kể cả một số khả năng phi thường xuất hiện . Ví dụ như kinh nghiệm thu được sóng các loại, kể cả sóng từ não bộ con người, thu nhận được các dao động tâm linh của các loài (Ta hiểu tựa như những dao động của sóng điện, từ trường và sóng cơ học), sau nhiều lần có thể kinh nghiệm được các dao động đó (bởi các loài có các dao động tâm linh, tín hiệu trao đổi thông tin khác nhau) . Từ đó hoàn toàn hiểu và tin con người có tàng thức, tức thức thứ 8, tức A-Đà-Na thức, tức A-Lại-Da thức mà các dao động đó nằm trong biểu A-Lại-Da thức, trong đó các thức chuyển biến .

Vậy nên, nếu mỗi người, cũng dồn công, dồn sức, dồn trí vào việc tu học chính đạo như đã dồn công, dồn sức, dồn trí vào các việc mưu sinh, các việc nghiên cứu khoa học, chế tạo các máy móc phương tiện v.v…thì cả loài người này đã thành Hiền, thành Thánh cả thảy, khỏi nhọc công mưu sinh danh lợi . Thế nhưng nhọc công mưu sinh danh lợi đến thế mà có đạt được hạnh phúc tương đối đâu, đức Phật đã khẳng định với mọi người một ý : Lòng công mà nhiều bằng lòng tư thì việc gì chẳng làm được . Niệm Phật mà thật lòng theo Phật thì thành Phật nhiều rồi! Vậy là những người tự nhận, tự nguyện, tự xưng là con Phật, chúng ta suy nghĩ và hành động như thế nào đây để thực tỏ lòng sự ăn năn hối lỗi với sự non kém đức tin và thường xuyên phạm lỗi của mình – Cái lỗi như điều răn của Thánh giáo đạo Hồi đã cảnh báo :"Có hai điều không bao giờ mày nên tới gần : đó là sự sùng bái Chúa A La để cầu lợi và tội ác đối với đồng loại của mày". Liệu chúng ta đã vĩnh viễn xa lánh được điều đó trong ý nghĩ, lời nói, việc làm hàng ngày hay chưa?

Cũng vì đức tin non kém và thấp mỏng, mà cho tới những năm cuối cùng của thế kỷ 20 này, con người chúng ta vẫn cứ lẩn quẩn quanh chân mình, quanh sân nhà mình . Cứ yêu cầu cái chi cũng phải mắt thấy, tay sờ, ấy vậy mà mắt thấy rồi, tay sờ rồi cũng có đúng đâu . Thấy sự tương ứng mắt thấy, tay sờ giữa con người với trái đất, cứ tưởng trái đất là mặt phẳng và đứng yên, trong khi nó hình cầu và quay vùn vụt . Vậy nên rất ngỡ ngàng khi được nghe lý giải rằng do nghiệp lực tương ứng giữa con người với trái đất nên con người mới có cảm giác vững vàng khi đi trên bề mặt cong và đang quay, đang chuyển động với tốc độ nhiều ngàn km/giờ . Cũng như vậy đối với các loài khác, như con cá tương ứng với nước, con chim tương ứng với hư không . Tức là ta cùng vật nương về trái đất . Vậy trái đất nương về đâu mà tồn tại? Trái đất ở trong Thái dương hệ, nên quay xung quanh mặt trời, nương về mặt trời . Thái dương hệ là một tiểu thiên thế giới nói trong kinh và quay quanh guồng trục là núi Tu Di Sơn. Có điều núi Tu Di được kết tập thành do những quang minh khá vi tế, nên mắt thịt không nhìn thấy .

Theo như nhận định chung của nhiều người, cho rằng chúng ta sinh ra trong thời mạt Pháp, xa thời Phật tại thế, nên số thượng căn, thượng trí, cực hiếm, số trung căn cũng rất hiếm, đa phần là hạ căn, hạ trí . Từ đó, thiếu tự tin là mình sẽ tinh tiến trong tu – học ở đời, do vậy sự nỗ lực, cố gắng không cao . Nếu đây là một thực tiễn thì đáng tiếc thay .

Trong cuộc sống không ai sinh ra là đã có đủ mọi phẩm chất và năng lực . Đều phải tuần tự đi từ thấp đến cao, đi từ cạn đến sâu . Do kiên tâm vững trí tu học mà từ chỗ hiểu ít, hiểu cạn, tới chỗ hiểu rộng, hiểu nhiều; do bền bỉ thực hành nên từ chỗ thô kệch, bệnh hoạn tới chỗ thanh sạch, an thiên . Do bền bỉ như vậy mà từ hạ căn ta tinh tiến tới trung căn, từ trung căn ta tinh tiến tới thượng căn, đồng bậc với chư vị đại đức, đại hạnh trong đời .

Vì tin rằng chúng sinh sẽ tinh tiến dần lên nhờ tu học mà đạt kết quả Niết Bàn, giải thoát, nên chư Phật mới xuất hiện ở trần thế mà chỉ ra vô số con đường đi tới đích đó và dày công phương tiện dạy truyền .

Vậy chúng ta hoàn toàn có đủ mọi cơ sở để tin rằng nếu bền bỉ, nghiêm mật tu học, ngay trong đời này chúng ta có thể thành tựu . Quả đức tin, nhân đức tin là nguồn cội của mọi công đức trong đời . Đúng như Đức Thế Tôn đã truyền dạy" Tin là mẹ của muôn vàn công đức"

Tóm lại, nếu không có đức tin to lớn, để khởi lên một hoài bão làm lẽ sống, làm động lực cực mạnh bên trong, thì không thể có đủ dũng khí để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, cũng như không thể có đủ khí phách để vượt lên trên những đố kỵ, hiềm khích ở đời để mà tu học . Đó chính là nhân quả của đức tin, cũng chính là phép nhiệm màu "bất khả tư nghì" của nhân đức tin to lớn trong đời vậy

Xin kính chúc và cầu nguyện cho tất cả mọi người tu học đều tinh tiến và đạt được sự an nhiên tự tại tức là đạt tới cực lạc ngay tại trên đời này .

Source: Tạp chí nghiên cứu Phật học số 1/2000Ä
 
 



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính