Thiền Định Với Cuộc Sống Hôm NayHT Thích Thiện Châu
Phật không phải là một lý thuyết gia mà là người thầy giỏi . Do đó lời Phật dạy không phải là một triết lý mà là đạo lý về sự thật nơi con người và cuộc đời nhằm giúp con người giác ngộ .
Trong khi hầu hết tôn giáo dạy con người thờ kính thần linh và cầu xin ân huệ nơi tha lực thì đạo Phật khuyên con người tự phát triển khả năng giác ngộ giải thoát của chính mình . Nói cách khác , thần giáo bảo chúng ta ngước mặt lên trời cầu xin thần linh ban ơn và cứu rỗi , đạo Phật giúp chúng ta nhìn vào con người và xã hội mà khai triển trí tuệ và từ bi với mục đích xây dựng an lành cho mình , cho người .
Có nhiều người , nhất là những người có sẵn thành kiến về các tôn giáo không thấy được sự sai khác giữa thần giáo và đạo Phật nên xem đạo Phật cũng là một thứ thần giáo có những lý thuyết duy thần , nghi lễ duy tâm v.v…
Thật ra nguyên nhân của sự hiểu lầm này không phải chỉ do sự hiểu sai và sự xuyên tạc của những người không Phật tử , mà còn do chính những người theo đạo Phật gây nên .
Chính Phật đã tiên đoán rằng sau khi Phật viên tịch độ 1000 năm thì đạo lý cao siêu của Ngài bị những người kém cỏi làm cho hoen ố và sai lạc . Từ khi Phật viên tịch cho đến nay đã hơn 2500 năm . Đạo lý của Phật đã truyền từ Aán Độ sang các nước Trung Á, Đông Nam Á , Viễn Đông và bây giờ thì sang Aâu Mỹ . Nhưng hiện tượng " tam sao thất bổn", thêm thắt , chắp vá , "phương tiện "… làm cho đạo Phật mất rất nhiều tính nguyên thủy và độc đáo của nó .
Phật đã bị thần hóa với nhiều quyền năng ban phước giáng họa mà Phật không hề có và không cần có . Người ta đã sáng tạo thêm nhiều Phật khác có quyền uy hơn Phật Tổ , hoặc đặt thêm trên bàn thờ Phật những tượng thần , để thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng của những người ham chuộng lễ bái , cầu xin ân huệ hơn là tìm đạo giác ngộ giải thoát .
Pháp, lời dạy trong sáng lợi ích của Phật , bị bỏ quên . Người ta ưa thích tụng và giảng những linh điển " tượng pháp" hay là " tà pháp" thích hợp với sự hiểu biết thấp kém của tín đồ và thuận lợi cho việc thương mãi hóa đạo Phật .
Tăng , những người tu hành thanh tịnh , lợi tha , không còn giữ được địa vị "chúng trung tôn" của mình . Phần lớn đã trở thành giáo sĩ làm trung gian giữa thần thánh oai quyền và người cầu xin phước lộc . Một số khác ,vì lý do kinh tế , trở thành phù thủy ,thầy bói , thầy đoán xăm quẻ…
Nhiều tổ chức Phật giáo , vì mục đích gây thanh thế cho tông phái mình , có xu hướng xây dựng giáo quyền theo kiểu Tòa Thánh La Mã . Tệ hơn ,có những người , vì tự ti mặc cảm đối với các thần giáo phương Tây , muốn hiện đại hoá đạo Phật , từ giáo lý cho đến phương pháp tu dưỡng , theo kiểu Tin Lành Hoa Kỳ hay Tân Tăng Nhật Bản .
Những hiện tượng trên đã làm cho đạo Phật bị hiểu sai , trong khi đó Phật không phải là thần linh , pháp không phải là giáo lý thần bí hay tín điều (dogmatisme) và Tăng chỉ là người tu hành và hướng đạo cho những ai muốn sống đạo .
Và một nguyên nhân khác nữa , cũng làm cho người ta hiểu lầm đạo Phật , là sự không hiểu rõ đạo Phật vốn chủ trương Tâm-Vật , hai thành phần tuy khác nhau song không thể hiện hữu một cách biệt lập , mà luôn luôn hiện hữu cùng nhau và ảnh hưởng lẫn nhau . Tất cả những phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật đều là trung đạo, không cực đoan về lý thuyết cũng như trong thực hành .
Trong một vài kinh , nhất là các kinh Phát triển ( Đại thừa), thảng hoặc có những lời nói "có vẻ duy tâm " , song đó chỉ là nhấn mạnh để chận đứng sự " vong thân" hay " đối trị căn cơ" mà không phải là lý thuyết duy tâm , duy thức toàn diện . Hơn nữa chữ tâm (citta) trong Phật học không có nghĩa như chữ tâm của triết học Tây phương . Bởi vì toàn bộ giáo lý của Phật dựa trên đạo lý Duyên khởi (Paticcasamuppada), nghĩa là đạo lý chủ trương vạn pháp do nhân duyên sanh chứ không do thần sanh , không do tiền định hay có ra một cách ngẫu nhiên may rủi .
Trở lại vấn đề , mặc dù Phật xem tâm ý , phần chủ động và sáng tạo nơi con người là quan trọng , song không hề phủ nhận sự hiện hữu của cảnh vật bên ngoài và chủ trương rằng cấu trúc và hoàn cảnh xã hội cũng như điều kiện kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sự suy tư , tâm tình và ý chí con người .
Tâm ý vốn là phần chủ động của sự sống và cuộc sống , cho nên phương pháp tu dưỡng trong đạo Phật thường được xem là phương pháp tu tâm , nghĩa là phương pháp giáo dục cải tạo con người . Song người ta cũng tìm thấy ít nhiều lời Phật dạy về vấn đề cải tạo môi trường sinh sống , xây dựng xã hội an lành theo nguyên tắc hướng về giác ngộ giải thoát .
Vì thế , ngay những vấn đề mà người đời thường cho là quan trọng như Thượng đế hiện hữu hay không hiện hữu , vật chất sinh ra tinh thần hay tinh thần sinh ra vật chất … đối với Phật tử không phải là những vấn đề quan trọng .
Quan trọng cho con người vẫn là vấn đề thanh tịnh hóa tâm ý , nghĩa là gạn lọc và làm cho phần sáng đẹp của tâm ý được phát triển trong mục đích cải tạo con người và xã hội loài người . Trong phạm vi giáo dục và cải tạo con người . Phật dạy chúng ta hãy nhìn thẳng vào tâm ý . Vui buồn , sướng khổ chỉ là kinh nghiệm của tâm ý . Quan niệm về tốt xấu , lợi hại , khôn dại cũng chỉ là những kết qủa của thái độ và cảm giác , cảm tình nơi con người . Kinh nghiệm cho thấy đời sống tinh thần của con người chỉ là sự tiếp nối của dòng cảm giác , nhận thức , tư tưởng và phân biệt dựa trên kinh nghiệm của quá khứ ; qua chúng , chúng ta thấy nào là thương ghét , sợ buồn , điên say , kiêu ngạo… Đó là thực tại trong đời sống con người cần phải nhìn thấy , chuyển hoá, còn sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng đế và bản ngã không phải là vấn đề thiết yếu :
"Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ , tâm sử .
Với tâm ý nhiễm ô
Nói năng hoặc hành động
Đau khổ theo liền ta
Như bánh xe theo bò
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ ,tâm sử
Với tâm ý thanh tịnh
Nói năng hoặc hành động
Hạnh phúc theo liền ta
Như bóng không rời hình
(Pháp cú 1,2)
Vì thế , trong đạo Phật , chân lý vi diệu thứ nhất là khổ (Dukkha), chỉ cho sự thiếu sót của cuộc đời như buồn lo , đau đớn , thất vọng , thác loạn , mất quân bình , giả dối , mong manh…
Chân lý vi diệu thứ hai là nhân khổ (Samudaya) chỉ cho tham ái (Tanhâ) hay là ba độc : tham , sân , si ; hay là năm điều ngăn che tâm trí : tham dục , nóng giận , hôn trầm, loạn động lo âu , nghi ngờ ; hay là 10 dây ràng buộc : chấp ngã , nghi ngờ , mê tín nghi lễ và cố chấp vào giới điều , tham dục , tàn bạo , tham sắc (vi tê) tham vô sắc , kiêu ngạo , loạn động ,vô minh .
Chân lý vi diệu thứ ba là sự khổ diệt (Nirodha) chỉ cho sự an lành khi tham , sân , si bị tiêu diệt .
Chân lý vi diệu thứ tư là con đường dẫn đến khổ diệt (Magga) gồm có 8 chánh đạo : chánh kiến , chánh tư duy , chánh ngữ , chánh nghiệp , chánh mạng , chánh tinh tấn, chánh niệm , chánh định ; được quy vào 3 điều học : Giới (Sila) , Định (Samadhi), và Tuệ (Panna) .
Có thể ví dụ bốn chân lý vi diệu như sau :
Như vậy , Phật , với giác ngộ giải thoát , chủ trương rằng cuộc đời có khổ gây nên bởi tham , sân , si ; và nếu muốn được an lành , con người phải sống theo đạo . Sống đạo tức là tu dưỡng hay thực hành Giới-Định-Tuệ . Ở đây , không bàn đến Giới-Tuệ mà chỉ bàn đến Định , tức là thiền định , có nghĩa là tu tâm dưỡng tánh .
- Bệnh
- Nguyên nhân phát sinh bệnh
- Sự hết bệnh
- Phương thuốc chữa lành bệnh
Người ta thường lầm lẫn thiền định (Dhyâna) với Yoga của Aán giáo (Hindouisme) có mục đích luyện tập thân thể cho dẻo dai khỏe mạnh , thôi miên , cầu phép lạ hay xuất hồn và cuối cùng thông hợp với Đại ngã hay Thượng đế. Tất cả những phương pháp tu dưỡng không hướng về giác ngộ giải thoát đều không dính líu gì đến thiền định của đạo Phật . Người tu thiền định không bao giờ dùng các thứ htuốc kích thích ( drogue) không cầu mong sự điểm đạo huyền bí hay thần thông phép lạ và không tụng đọc cả những câu thần chú ( mantra) . Thiền định liên quan mật thiết đến tâm ý và cuộc sống con người , rất thích hợp cho những ai muốn thăng hoa đời sống hướng về giác ngộ giải thoát .
Source: Tuần báo GIÁC NGỘ
Trang MỤC LỤC
Trang chính