Thâm hiểu ý chí Thiền, nội tâm ngày càng tỉnh thức, ông càng thấm nhuần lý Tánh Không của vạn pháp. Dựa trên nền triết lý này, ông nghiêm khắc quở trách việc chia kinh của Thái tử Lương Chiêu Minh, khi trên đường đi xứ, ông dừng chân ở đài đá chia kinh của Thái tử : "Nền đài gai góc rậm rạp chìm lấp trong mưa bụi". Tương truyền rằng ngày xưa, Thái tử dùng làm nơi phân kinh, tức là chia kinh Kim Cương thành từng hạng mục để giảng cho quần chúng. Đoạn thơ sau đây trong bài Đài đá chia kinh của Thái tử Lương Chiêu Minh nhà Lương (Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh Thạch đài) :
Sao chỉ gượng làm chuyện rắc rối
Phật vốn là không, chẳng vướng gì
Thì đâu có kinh mà phải chia ?
Kinh thiêng nào phải do văn tự
Đâu là Kim Cương và Pháp Hoa ?
Cảnh giới sắc không còn chưa tỏ
Tâm si theo Phật, Phật thành ma
Ông làm việc này của Thái tử là "gượng làm chuyện chia kinh chỉ thêm rắc rối". Phật là danh dự nên vốn là Không, mà Thiền thì bất lập văn tự, có dính dáng gì đến kinh mà phải chia ? Văn linh thiêng đâu phải nhờ chữ nghĩa thì cái gì là kinh Kim Cương, cái gì là kinh Pháp Hoa ? Mịt mờ chẳng ngộ được cảnh giới sắc không, với cái tâm còn si mê đó mà theo Phật thì Phật cũng thành ma thôi. Yù nghĩa này không sai khác với ý của Lục Tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh : Người chánh hành pháp tà thì pháp tà thành chánh pháp, người tà hành chánh pháp , thì chánh pháp biến thành tà. Chỗ này xin nói rộng như vầy : Ví như quý Phật tử đến chùa cầu xin Phật ban phước lành, gia hộ cho gia đình con cái được mạnh khỏe, tai qua nạn khỏi thì lúc đó Đức Phật là ông thần hộ mạng ; còn người đến cúng dường, khấn vái xin Phật cho đi buôn một vốn chín hay mười lời thì Đức Phật thành ông thành tài…
Nhưng đặc sắc nhất là phần cuối của bài thơ này đây là bài thuyết pháp ngắn gọn nói về chân tâm :
Ta nghe Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ người nhiều vô số
Người rõ tâm này người tự độ
Linh sơn hiện hữu ở tâm mình
Bồ đề vốn không cây
Gương sáng cũng không đài
Ta đọc Kim Cương hơn ngàn bộ
Yếu chỉ sâu xa vẫn chẳng rành
Đài đá phân kinh nay ghé đến
Mới hay không chữ ấy Chân kinh
Bốn câu đầu : Ta nghe Đức Phật ở hội Linh Sơn thuyết pháp độ người nhiều như cát sông Hằng, nhưng mà người nào đã rõ được tâm này thì người ấy tự biết độ mình, và hội Linh Sơn ở ngay tâm mình thôi. Ngày xưa lúc Ngũ Tổ đưa Ngài Huệ Năng đến bến đò để qua sông đi trốn, Ngũ Tổ cầm chèo tự chèo, Ngài Huệ Năng thưa : "Thỉnh Hoà Thượng để con chèo". Tổ bảo : "Phải là ta độ ông". Ngài Huệ Năng thưa : "Khi mê thì Thầy độ, ngộ rồi con tự độ ". "Tự độ" ngày xưa ấy với "Tự độ" mà ông nói ở đây khác nhau. Khi ấy thì Hội Linh Sơn ở ngay tâm mình và Đức Phật đưa cành hoa lên rõ ràng còn đó "gương sáng cũng không đài", "Bồ đề vốn không cây" : Đây là hai câu kệ trong bài kệ bốn câu lừng danh của Lục Tổ. Hai câu này nhằm đối lại hai câu trong bài kệ của Ngài Thần Tú. Ngài Thần Tú cho rằng : "Tâm như đài gương sáng " và "Thân là cây Bồ đề" (tâm như minh kính đài, thân thị Bồ đề thụ). Nhưng Lục Tổ khẳng định : "gương" tự nó sáng chứ không phải là đài gương sáng, và "Bồ đề" là tánh giác nên chẳng phải là "cây". Nguyễn tiên sinh muốn nhắc lại hai câu này nhằm hiển bày tâm tánh. "Gương sáng" dụ cho "Tâm " và "Bồ đề" dụ cho "tánh giác". "Tâm tánh" không rời nhau và không dính dáng gì đến chữ nghiõa. Cho nên ở bốn câu cuối ông thú thật rằng ông đọc kinh Kim Cương hơn ngàn lần mà yếu chỉ của kinh phần nhiều ông không hiểu rõ. Phải chăng vì ngày đó ông còn đang tìm kiếm, đang muốn hóa giải những mâu thuẫn, xung đột trong lòng, cho nên ông nghiên cứu kinh, nhất là kinh Kim Cương, ngõ hầu tìm trong đó một lối thoát, một phương thuốc trị tâm bệnh. Chính vì tìm kiếm, vì mong muốn nên ông làm sao hiểu tột lý kinh ? Từ khi ông biết "soi sáng" lại chính mình, dần dần ông nhận hiểu được những vận hành của tâm thức, những phóng hiện đa dạng của bản ngã, cả những im ắng giả tạo của lòng mình.
Đến khi dừng chân trước đài đá phân kinh thì chỗ hành đã thuần thục, đã chín muồi nên ông chợt hiểu rằng : "Kinh không chữ chính là Chân kinh" tất cả giờ đây sáng tỏ. Ông nhận ra cốt tủy của Thiền, ông đã đọc được quyển kinh bất lập văn tự của giáo ngoại biệt truyền và đã nhận ra ý nghĩa cành hoa đưa lên của Đức Phật ở hội Linh Sơn ; hay nói cho văn vẻ hơn, tiên sinh đã mở tung được cánh cửa Thiền để làm một cánh hồng bay bổng, tiêu dao ở cõi vô ngôn lồng lộng hay làm một vị quan lặn lội chốn bụi hồng cũng thế thôi. Dù cho :
Hoa tàn hoa nở vẫn còn xuân
(Hoa lạc hoa khai xuân vô hạn)
Việc đời có đổi dời, sự vinh nhục, khổ vui, sống và chết, gì gì đi nữa đối với ông đâu còn ý nghĩa… bởi vì dù "hoa nở" hay "hoa tàn", "mùa xuân" vẫn còn đó, bất tận trong lòng ông. (Đỗ Trung ngẫu hứng) Tiên sinh ra làm quan vì tình thế bắt buộc và ông đã tùy thuận theo hoàn cảnh để giữ mình, ông đã tùy duyên. Ngày xưa, ông tiểu ẩn ở dãy Hồng Lĩnh, thì ra làm quan ông đã đại ẩn giữa triều đình chứ không phải là "hành thần lơ láo" như sách vở đánh giá về ông. Ông chỉ làm một ông quan bình thường không tham vọng. Oâng rất khéo léo trong cách ứng xử, biết lúc nào nên co, lúc nào nên duỗi, lúc nào im lặng, lúc nào thưa trình. Ông đã giấu mình trước những cái nhìn xoi mói và đố kỵ của các quan đồng liêu, biết tàng ẩn chỗ thâm ngộ và trong sáng của mình. Bằng nội tâm bén nhạy và sáng suốt, ông thấy tột chân tướng của giới quan lại thời ấy. Để chỉ bằng một câu thơ, ông đã đánh giá một cách xác thực và trọn vẹn về tư cách và sinh hoạt của họ.
Ông viết :
…Địa địa xứ giai Mịch La
"Trọn cả quả đất này chỗ nào cũng là sông Mịch La cả", nhưng khác với Khuất Nguyên ông không trầm mình trong dòng sông Mịch, mà ông ngoi lên, vượt đến tận đầu nguồn để nhìn rõ hơn đâu là thực, đâu là hư và nhận chân hơn giá trị cuộc đời. (Phản chiêu hồn) Tuy làm quan to nhưng ông vẫn cam chịu cuộc sống bần cùng khốn đốn :
…Thập khẩu đề cơ Hoành lĩnh Bắc
Nhất thân ngọa bệnh đế thành Đông
Gào rã non Hồng mười miệng đói (Ngẫu đề) Ốm co thành Huế một thân trơ
(Ngô Linh Ngọc dịch)
Ngày xưa ông đâu chẳng từng khốn đốn, đói nghèo trôi nổi, điêu linh đó sao. Đó cũng là những nhân tố góp phần tái tạo Nguyễn Du trở thành một con người đích thực, một con người đúng nghĩa một con người, con người bình thường giữa xã hộii bất thường nên đối với ông những cùng khốn giờ đây có nghĩa gì và quyền lợi cũng chẳng có nghĩa gì :
…Nhân sinh quyền lợi thành vô vị
Kim cổ thùy năng phá thử mê ?
(Đinh Tô Tần)
- Đời người quyền lợi đều vô vị
Ai tỉnh nghìn xưa giấc mộng này ?
(Ngô Linh Ngọc dịch)
Điều quan trọng là : Cái "danh lợi" đời người rất vô vị, nhưng xưa nay ai phá được cái "mê" này ? Chính ông đã làm được , vì ông đã tỉnh.
Theo sử chép vào năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) ông được cử đi sứ nhà Thanh một lần nữa nhưng chưa kịp đi thì mất, thọ 56 tuổi. Sử còn ghi rõ về cái chết của ông : "…Đến khi ốm nặng, ông khôngchịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay, chân xem còn nóng hay lạnh. Họ thưa : "Lạnh cả rồi". Ông nói "Được" rồi mất, không trăn trối lại điều gì ".
Theo thiển nghĩ, đối với một người khát khao chân lý như Tiên sinh đã dày công nghiên cứu kinh luận như đọc kinh Kim Cương đến hơn nghìn lần và đọc cả Pháp Bảo Đàn Kinh… mà đâu phải ông đọc suông. Oâng đã ứng dụng, nghiền ngẫm suy tư, tìm kiếm mong lãnh hội những yếu chỉ sâu xa của kinh luận, hầu hóa giải một nội tâm mờ mịt rối bời. Và không uổng công, ông đã nhận ra đã thấu hiểu, đã sống hay "Soi sáng lại chính mình" (Phản quan tự kỷ). Cuối cùng bằng tất cả hùng lực ông đã buông mình một cách tuyệt vời để thật sự tiêu dao trong vùng trời thênh thang không cùng của Thiền học. Tuy không nói nhiều về chỗ hiểu, chỗ sống của mình nhưng ông vẫn có chút ít bộc lộ, tản mạn trong Toàn tập Nguyễn Du . Ngưỡng mong các bậc thạc đức – trong phút giây bất chợt nào đó – lắng lòng đi vào thế giới thi ca của Nguyễn tiên sinh để có thể nào chăng, có những khám phá và những nhận định mới mẻ, xác thực hơn về tiên sinh.
Căn cứ theo sử ghi trên, chúng tôi thấy cái chết của ông rất an bình và tự tại. Ông đã tự chủ và rất tỉnh thức để chủ động chuyến đi của mình. Đối với ông, ra đi cũng là trở về thế thôi. Biết mình nhiễm bệnh dịch và khó sống, ông không uống thuốc vì đã thấu suốt sinh tử là lẽ thường ; và khi đi ông đã tỉnh táo bảo người nhà rờ xem tay chân còn nóng hay lạnh, người nhà đáp "lạnh rồi". Ông đáp : "Được" rồi an tường ra đi. Nếu người còn mang nhiều ẩn tình sâu kín, những ray rứt không nguôi, thì khi đối diện với vô thường làm sao tránh khỏi bấn loạn và hôn mê trước bệnh ngặt ? Còn nếu bảo ông trối trăn gì ư ? Việc đời thì có gì đáng nói. Vì :
…Bách niên đáo để giai như thị
Hồi thủ mang mang nhất phiến trần
(Đỗ Trung ngẫu hứng)
Dịch :
Trăm năm rốt cuộc đều như thế
Ngoảnh lại mịt mờ đám bụi bay
Trăm năm rốt cuộc rồi ai không chết "có ai qua được ải tử sinh" nhìn lại trần gian chỉ là một đám bụi mịt mờ, cát bụi trở về cát bụi, thì có gì thêm, có gì bớt và còn có gì để trối trăn đây ? Nhưng chỉ một tiếng "được", chỉ một âm thanh gọn nhẹ mà gói ghém biết bao ý nghĩa ; phải chăng đó là tiếng sư tử gầm vang dội xuyên suốt qua không gian vô cùng, qua thời gian vô tận vào lòng người muôn thưở…
Bao nhiêu năm có đổi đời
Tố Như vẫn mãi "sáng ngời tấm gương"(1)
Lênh đênh giữa cuộc vô thường
Ai hay tỏ suốt con đường tử sinh ?
Nhắc lời "vô tự Chân kinh" (2)
Mai sau ai có thấu tình Tố Như ?
Source: Tuần báo GIÁC NGỘ
__________
Nguyên văn "Tứ thời tâm kính tự như như" (Tạp thi II) Nguyên căn "Tài trí vô tự thị Chân kinh" (Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh Thạch Đài)
Trang MỤC LỤC
Trang chính