Như chúng ta đều biết, chỉ những lời giảng, những bài pháp từ chính kim khẩu của Thế-Tôn, trong suốt bốn mươi chín năm Ngài hoằng hóa, sau khi Phật Niết-bàn được các Tổ cùng thời và sau thời Ma-ha Ca-Diếp kết tập, ghi chép lại với lời mở đầu "Như thị ngã văn - Tôi nghe như vầy " mới được gọi là Kinh, còn ngoài ra là chẳng phảị Nhưng duy nhất, ngoại lệ và hy hữu là Pháp Bảo Đàn Kinh là cuốn kinh được các đệ tử đương thời của Lục tổ Huệ Năng ghi lại hành-trạng và những bài giảng của Ngài về pháp môn Đốn giáo, chỉ thẳng, nói thẳng, xiển-dương Tâm-Pháp của Sơ tổ Bồ-đề Đạt-ma, cũng là Không-Pháp, là chánh pháp từ Đức Phật vậỵ Lục Tổ Huệ Năng, sau khi thị tịch được các Thiền viện Trung Hoa xem là cây cột cái, và hầu hết các Thiền phái đều phát nguyên từ cữa nầy và Pháp Bảo Đàn Kinh mặc nhiên là Đại Hồng-chung, là kim chỉ nam của Thiền-tông Trung Hoa, cũng như sau đó lan truyền sang tận các nước Nhật bản, Cao ly, Việt nam, phát triển và lớn mạnh đến tận ngày naỵ Xem thế đủ biết Pháp Bảo Đàn Kinh có tầm quan trọng và to lớn như thế nào đối với hàng Phật tử căn cơ tu theo Tâm pháp.
Với công năng vi diệu của từng lời, từng chữ mà Lục tổ đã nói ngay, chỉ thẳng trong toàn suốt bộ kinh Pháp Bảo Đàn đem lại lợi lạc không thể nghĩ bàn cho những ai có căn duyên với pháp môn Đốn giáo nàỵ
Trong một bài viết hạn hẹp, ở đây chúng tôi chỉ làm cái việc trích ngang, đề cập đến ba bài pháp đầu tiên của Ngài, trong tư cách Ngài còn là một Cư sĩ , sau khi được triệt ngộ ở cửa Huỳnh Mai Ngũ Tổ, nhưng chưa thọ Cụ túc giớị
Bài Pháp Đầu Tiên:
Sau khi Ngài (Lục Tổ Huệ Năng) được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn vây màn nơi Tổ đường trong đêm khuya giảng Kinh Kim Cang, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" thì ngài tỏ ngộ Nhất thiết vạn pháp bất ly tự tánh - tất cả các pháp chẳng lìa tự tánh. Ngũ Tổ biết Ngài đã triệt ngộ, ngay giữa canh ba truyền pháp Đốn giáo và y bát , dạy Ngài làm Tổ đời thứ sáu và khéo lưu-truyền, không để mất chánh pháp. Sau đó Ngài một mình đi nhanh về hướng Nam.
Những kẻ xấu ác sau khi biết Ngài đã được phó chúc và đang bôn tẩu, muốn tranh đoạt y bát, hiệp nhau vài trăm người do tu sĩ họ Trần, tên Huệ Minh cầm đầu đuổi theo Ngàị
Ngài Huệ Năng trông thấy Huệ Minh, bèn đặt y bát trên một tảng đá lớn, nói rằng : 'Y nầy là biểu tín của Chánh Pháp, há dùng sức mà đoạt được sao ?' Nói rồi liền ẩn núp trong đám cỏ.
Tu sĩ Huệ Minh đến xách áo lên nhưng không nhúc nhích nổi, hoảng hốt kêu lên : 'Hành giả, Hành giả ! Tôi đến vì Pháp, chẳng phải vì Y !
Ngài Huệ Năng bước ra ngồi trên tảng đá.
Huệ Minh đảnh lễ, thưa : ' Mong hành giả vì tôi mà thuyết pháp.'
Ngài Huệ Năng nói :' Ngươi đã vì pháp mà đến đây, nên dẹp hết các duyên, chớ sanh một niệm nào, ta sẽ vì ngươi mà thuyết pháp.'
Huệ Minh tịnh tâm giây lâu, Ngài Huệ Năng nói :'Không nghĩ thiện, không nghĩ ác , chính ngay lúc đó Bổn lai diện mục của thượng tọa Minh là gì ? '
Huệ Minh vừa nghe, chợt liền đại ngộ, hỏi tiếp : 'Ngoài mật ngữ, mật ý vừa rồi, còn có ý sâu kín nào khác nữa không ?'
Ngài Huệ Năng nói : 'Những gì ta vừa nói với ngươi tức chẳng phải kín. Nếu ngươi tự soi chính mình, thì cái ý kín ấy ở ngay bên ngươị'
"Không nghĩ thiện không nghĩ ác, chính ngay lúc đó bổn lai diện mục của thượng tọa Minh là gì? ' Đây chính là bài pháp đầu tiên của Ngài Huệ Năng sau khi lọt vào cữa Ngũ Tổ và vừa được truyền y bát.
Với một câu nói giản-đơn, chỉ ngay chỉ thẳng tâm người, không một chút dính dấp gì đến kinh điển, không một lời dẫn-chứng, giảng giải hay biện luận, nhưng ngay đây thượng tọa Minh đã trực ngộ, nhận ra bổn lai tự tánh, thể hiện hoàn toàn công năng vi diệu không thể nghĩ bàn của Pháp môn Đốn giáo, 'Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật.' Bỡi tâm chúng sanh lúc nào cũng lăng xăng, vọng động, chấp cảnh nầy, thân nầy là thật, cũng như người tu lại chấp thêm pháp nầy là thật, nên ngoài thì bị cuốn hút theo trần cảnh, bên trong thì vọng tưởng điên đảo khởi lên trùng trùng không lúc nào dừng nghỉ, làm che mờ tự tánh, thí như mây đen quần vũ che lấp trăng rằm, chứ trăng rằm thì thường sáng. (Tạm thí dụ - mặc dù phản khoa học, vì trăng chỉ là một hành tinh nhận ánh sáng từ mặt trời và phản chiếu đến trái đất nên chúng ta mới thấy sáng.)
Thế nên khi Ngài Huệ Minh bình tâm, ngoài không vì lợi dưỡng, không vì tướng hảo của y mà thân chạy theo cái việc làm ác nữa, trong không còn vọng tưởng vì danh vị , chức sắc để khởi niệm ác nữa, nhưng vẫn tồn tại một niệm sở đắc duy nhất là vì pháp, vì cái thiện, vì cái tương lai chứng đắc của việc tu hành. Ngài Huệ Năng biết ông ta thành thật hồi tâm, nhưng vẫn còn vướng mắc ở chính tâm chấp thiện, chấp pháp, còn sở đắc, mà chính chúng khi khởi lên cũng là án mây che mờ tự tánh, nên Ngài đã giúp thượng tọa Minh xóa nốt đám mây đen đó bằng cách trước tiên yêu cầu Ông giữ tâm bình lặng, sau đó chỉ với một câu phá chính cái chấp ở chỗ cầu và được pháp, tức cũng là cái Thiện mà Ông đang ôm ấp (không còn nghĩ ác, nhưng vẫn còn nghĩ thiện). Thượng tọa Minh đã biết là mình không thể nào tranh đoạt y bát cùng Ngài Huệ năng nữa, tức là Ngài đã dẹp được cái nghĩ ác, nhưng tâm cầu pháp, cầu thiện, cầu đắc quả vị thì vẫn còn. Thế nên, còn chấp, dù là chấp thiện, cũng cần phải dẹp bỏ luôn thì mới được việc. Ngay sát na tâm Huệ Minh vắng lặng, không có một niệm nào, cũng chính là lúc nhát búa của Ngài Huệ Năng đập trực diện vào tiềm thức đang mê mờ của Huệ Minh. Chỉ ngay nhát búa của câu hỏi, cũng vừa là câu trả lời cho sự khao khát cầu pháp của Huệ Minh 'bổn lai diện mục ở đâủ' đúng nơi đúng lúc, buộc Huệ Minh phải tự phá thế mà thoát rạ Ngay đây tất cả dây mơ rễ má trói vần chằng chịt tự bao đời đột nhiện đứt tung, bể nát, chẳng còn gì dấu tích. Ngay đó chơn tâm hiển hiện.
Người nào đến chỗ này thì cũng đã vô sự rồi, nhưng thượng tọa Minh không rõ chỗ vô sự đó nên chưa thật hài lòng , sợ rằng còn có 'mật-ý' sâu kín nào nữa chăng, còn có chỗ 'sở đắc' nào nữa chăng, nên hỏi thêm, và Ông đã được ngài Huệ Năng phơi hết ruột gan là chẳng còn gì nữa cả, chỉ có thời thời hồi quang phản chiếu, và sống với chính nó mà thôi, trụ ngay ở chỗ chẳng có chỗ trụ, được ngay ở chỗ chẳng gì để được, chẳng khác Sơ tổ Bồ-đề Đạt-ma dặn dò Nhị tổ Huệ Khả khi Nhị tổ chợt vừa tỏ ngộ : 'Hãy giữ gìn, Ông như thế mà ta cũng như thế.' Tuy có dụng đến trăm lời, ngàn chữ đi nữa nhưng ý cũng chỉ một, ba tiếng 'Hãy giữ gìn' đã nói lên tất cả và trọn vẹn, đó chính là lúc tâm tâm khế hợp, đã tỏ tự tánh, là đồng như Tổ không khác, hãy sống chân thật trong đó mà tu hành, còn cao sâu hay nông cạn tùy công phu của chính mình mà tự biết vậỵ
Chỉ một câu nói của Ngài Huệ Năng, "chỉ thẳng tâm người" đúng nơi, đúng lúc đã làm cháy tiêu lớp màn vô minh bao phủ thượng tọa Minh tự bao đời bao kiếp , đó chính là cái vi diệu bất khả tư, bất khả nghị cũa pháp môn Đốn giáo, của Tâm pháp, cũng là Không pháp, là Thiền tông vậỵ Đến đó thì nhìn lại thật cũng chẳng có một pháp nào thật là pháp cả, tất cả chỉ là giả danh và chính pháp này cũng đã tự cháy tiêu không lưu dấụ Đến đó mới thấy lời Phật dạy hàng ngàn năm trước sao mà cao diệu quá ' Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết thị danh thuyết pháp.' Pháp của Phật, như Thế tôn thường dặn dò các đệ tử của Ngài, dụ như bè hoặc ngón tay, chỉ là phương tiện chỉ đường cho chúng sanh khai mở tự tâm để hòa "một" với Đạo mà thôị Và một khi đã tỏ Đạo thì chẳng còn thấy gì là pháp nữa cả. Ngay chỗ đó, tiếng Đạo cũng chẳng còn, cũng vô nghĩa huống là gì khác; thí như hư không là hư không, hư không chẳng từng gọi chính hư không là hư không vậỵ Nhưng hư không vẫn là hư không, chẳng từng thêm bớt, chẳng từng sạch dơ, chẳng từng sanh mà cũng chẳng mất, vô thỉ vô chung, vô cùng vô tận.
Bỡi chấp ngã, chấp pháp nên Huệ Minh và không ít người tu hành khác luôn luôn truy tìm cái chỗ được, để vun đắp cho cái ngã, nên Huệ Minh mới có câu hỏi thòng thứ haị Mặc dù đã tỏ ngộ nhưng cái ngã tướng thật vi tế lúc ấy của Huệ Minh vẫn còn. Chỉ đến câu đáp thứ hai của ngài Huệ Năng, thì Huệ Minh mới biết rằng mình thật sự đã lọt vào cửa Tổ chỉ còn lại một công việc là sống chân thật trong đó mà tu hành để tự giải thoát mà thôi, ngoài ra chẳng còn gì khác nữa cả. Phật pháp và cái được ở đây chính là chỗ đức Phật từng dặn dò các đệ tử của Ngài : "Vô pháp khả đắùc thị danh đắùc pháp" Hoặc 'Như lai đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam Bồ-đề, ư thử trung, vô thật vô hư.'
Bài Pháp thứ Hai :
Sau lần thuyết pháp cho Ngài Huệ Minh được tỏ ngộ, ngài Huệ Năng phải ẩn thân lánh nạn bọn xấu ác suốt mười lăm năm trờị Một hôm Ngài nghĩ đến lúc đã có cơ duyên phải ra hoằng pháp, Ngài đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu gặp lúc Ấn Tông Hòa-thượng giảng kinh Niết-bàn. Nhân thấy bên ngoài có hai vị sư đang tranh cãi nhau nghĩa 1ý của gió và phướn, người thì nói gió động, người thì nói phướn động, cãi mãi không thôị Vì tâm từ, để khai mở cho hai vị sư, Ngài đến nói cùng họ rằng : 'Chẳng phải gió động, cũng chẳng phải phướn động. Chính tâm của hai ông động.'
Đó chính là bài pháp thứ hai của Ngài vậỵ
Bỡi hai ông sư đem tâm phân biệt, chấp trước có phướn thật, gió thật, có ngã có nhơn, có chúng sanh, có thọ mạng, rồi dùng kiến-văn giác-tri để biện luận sự việc đúng-sai, phải-tráị Nhưng những việc làm ấy sẽ chẳng đưa hai vị sư đi đến đâu cả, cùng lắm cũng chỉ làm giàu cho kiến giải nhị nguyên mà thôi , vì tất cả những việc ấy đều không ra ngoài vọng thức đảo điên, nhân quả, sanh diệt. Ngài đã từ bi chỉ thẳng cho hai vị sư trực nhận tự tánh của mình mà trước đó mười lăm năm, Ngài cũng đã nhận ra nó sau khi được Ngũ tổ thuyết Kim Cang Kinh. Giờ đây, Ngài phương tiện chỉ dùng một câu nói thẳng, chỉ thẳng ngay tâm mà đem lại lợi lạc không thể nghĩ bàn cho hai vị sư . Một khi đã tỏ rõ bổn lai tự tánh, mới thấy tất cả các pháp đều như huyễn , đều do tâm vọng sanh, chẳng gì thật ngoài tự tánh thanh tịnh xựa naỵ Có nhận rõ được bổn lai tự tánh, thì mới rõ như thật mình là ai, để rồi sống được trong nó mà tu hành, thì sự tu hành mới thật sự thành tựu, không gì sai khác được.
Chúng ta há không nghe Lục Tổ nói :'Tu hành mà không rõ bổn tâm, chẳng ngộ tự tánh, thật luống công vô ích' đó sao!
Qua câu nói khai mở cho hai vị sư, chúng ta liên tưởng đến một thiền ngữ tương tự, chỉ thẳng ngay tâm:
"Trời đang mưa, một Thiền sư hỏi đệ tử : bên ngoài là cái gì ?"
Vị đệ-tử trả lời:
" Thưa, tiếng mưạ"
Thiền sư bảo:
" Chúng sanh điên đảo, mê mình theo vật."
Vị đệ tử hỏi lại:
" Thưa, thế thì sao mới đúng đây ?"
Thiền sư trả lời:
" Ta chính là tiếng mưạ"
Bỡi chấp thân chấp cảnh nên quên mất chính mình, chứ vị đệ tử kia đâu biết rằng nếu soi rọi và tự tỏ, cảnh-thân đồng một, cùng pháp giới không hai, tất cả hàm linh đồng một chỗ uyên nguyên mà ra, mình cũng chính là tiếng mưa mà cũng là tất cả, một hạt mưa cũng chính là mình, mà tất cả cũng chỉ một không hai không khác. Nói một mà cũng chẳng phải một, bỡi không còn có gì đối đãi để mà có niệm một nữạ Tỏ thì lấy chỗ uyên nguyên, vô thỉ vô chung, làm chốn về. Không tỏ thì nhận các tướng làm nơi nương náu, mà còn tướng thì chẳng ra khỏi sáu đường, không ra ngoài luật tắc nhân quả, tử sanh, luân chuyển không cùng.
Trong Kim Cang Kinh, Phật tán thán Ngài Tu-bồ-đề khi Ngài nghe pháp được tỏ ngộ và bạch Phật : "Ly nhứt thiết tướng tức danh chư Phật."
Trong Pháp Bảo-Đàn Kinh, Lục Tổ cũng thuyết tương tự : "Ngọai ly nhứt thiết tướng, danh vi vô tướng. Năng ly ư tướng, tắc pháp thể thanh tịnh."
Sống chân thật trong thể tánh thanh-tịnh thì ngay đó cũng chính là nhà, là chốn về của mình rồi chứ còn tìm kiếm đâu xa nữạ Ngay đó chẳng có gì trói buộc, dính mắc, chính là Như, là giải thoát hiện tiền vậỵ
Được ngay ở chỗ Ly nhứt thiết tướng chính là bổn thể, là tánh, cũng là chỗ về của trí giả vậỵ
Bài Pháp thứ Ba:
Pháp sư Hòa thượng Ấn Tông sau khi mời ngài Huệ Năng ngồi lên trên, đảnh lễ Ngài và được xem y bát truyền thừa xong, mới hỏi pháp.
" Pháp Sư Aán-tông hỏi:
" Lời phú chúc cũa tổ Huỳnh Mai truyền bằng cách nào ?"
Ngài Huệ Năng đáp:
" Phú-thọ (truyền-nhận) vốn không, chỉ luận về kiến tánh, chẳng luận về Thiền định và Giải thoát."
Pháp sư Ấn Tông hỏi:
" Tại sao chẳng luận Thiền định và Giải thoát ?"
Ngài Huệ Năng đáp:
" Vì kiến tánh là thành đạo, còn luận chi Thiền-định và Giải thoát. Phật-pháp là pháp "không hai"."
Pháp sư Ấn Tông lại hỏi:
" Thế nào Phật-pháp là Pháp " Không hai" ?"
Ngài Huệ-Năng đáp:
" Pháp sư giảng kinh Niết-bàn rõ được Phật tánh, chứng tỏ Phật pháp là "không hai".
Như Cao Quí Đức Vương Bồ tát bạch Phật : - Những người tạo tọâi ngũ nghịch, phạm tứ trọng giới hoặc bất tín có mất Thiện căn Phật tánh không ? Phật thuyết : - Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường; Phật tánh thì chẳng thường, chẳng vô thường, nên không dứt, gọi là không haị
Một là Thiện, hai là bất thiện; Phật tánh thì chẳng thiện, chẳng bất thiện nên gọi là pháp "không hai".
Đối với ngũ uẩn và thập bát giới, phàm phu thấy có hai, nhưng kẻ trí giả hiểu rõ "tánh" không hai . Tánh "không hai" ấy là Phật tánh vậy" .
Đó chính là bài pháp thứ ba của ngài Huệ Năng sau khi rời núi Huỳnh mai cho đến khi thọ Cụ túc giớị
Trong phần nầy có bốn điểm trọng yếu cần phải bàn.
Phú chúc của Ngũ tổ đối với ngài Huệ Năng :
Vì Pháp sư Ấn Tông giảng kinh Niết-bàn, dẫn dắt người đến chổ rõ tự tánh, tu và chứng đắc y kinh có thứ lớp. Còn Lục tổ Huệ Năng thì thực hành pháp môn Đốn giáo, chẳng dùng văn tự , chẳng y cứ trên kinh điển mà dùng Không-pháp, tức Tâm pháp "chỉ ngay, nói thẳng " nên Ngài Ấn Tông mới hỏi, vì Ngài chưa từng biết quạ
Thế nên ngài Huệ Năng mới nói là "phú-chúc vốn không, chỉ luận kiến tánh mà không luận Thiền định, Giải thoát" , trực diện, trực chỉ ngay đó được việc, chẳng giống như Ngài Ấn Tông y theo Niết-bàn Kinh mà giảng pháp theo thứ lớp.
Vì sao không luận Thiền định và giải thoát : "Vì kiến tánh là thành đạo, thì còn luận chi Thiền định và Giải thoát". Bỡi ngay ở chỗ kiến tánh thì đã là định rồi, trong tánh có định, trong định hiển tánh, mà đã kiến tánh rồi thì tự rõ tất cả, còn gì vướng mắc, ràng buộc nữa đâu mà cầu giải thoát, và giải thoát cái gì đâỵ Ngay đó chỉ một, nói một mà thật chẳng một, cũng chẳng hai, chẳng khác, không đến không đi, không sanh không diệt, tất cả chẳng gì dính dấp, đối đãi thì có cái gì trói buộc mà đòi giải thoát ?
Thế nào Phật pháp là pháp không hai : - "Pháp sư giảng kinh Niết-Bàn, rõ được Phật tánh, chứng tỏ Phật pháp là không haị "
Ngài Hoà thượng Ấn Tông lúc mới gặp và đối thoại cùng ngài Huệ Năng, mặc dù Ngài là một Pháp sư, y cứ kinh Niết-bàn mà giảng cho đại chúng nhưng tự thân Ngài vẫn chưa ngộ tánh (nên mới có câu hỏi : vì sao chẳng luận Thiền định và Giải thóat? Cũng như nói : Tôi giảng Kinh như ngói gạch, Nhân-giả luận nghĩa như vàng ròng.) nên mới có câu tham hỏi rất cặn kẽ, rất hay, và rất tha thiết, đúng thời, đúng chỗ.
Sanh thời đức Phật dùng phương tiện quyền xảo, tùy căn cơ, duyên nghiệp, trí tuệ từng người mà Ngài thuyết pháp, từ thấp đến cao, nói xa nói gần nhưng tất cả không ngoài mục đích dẫn dắt chúng sanh từ chỗ mê lầm quên mất chính mình, đến chỗ khai mở tự tâm để tỏ rõ tự tánh, cũng gọi là kiến tánh. Kiến tánh là mục đích duy nhất, và tối hậu của người tu hành để tự giải thoát.
Tuy rằng các pháp môn có khác nhau, nhưng đó cũng chỉ là phương tiện để đáp ứng cho từng căn cơ, duyên nghiệp nông sâu, nặng nhẹ của mỗi chúng sanh mà có tiệm, có đốn, có thấp có cao, nhưng cốt lõi vẩn là dẫn dắt chúng sanh khám phá chơn tâm. Một khi chơn tánh phô bày, thì tự thấy do tâm vọng động mà các pháp có biến hiện, sanh diệt; các pháp biến hiện này đều hư huyễn, giả dối, thoắt còn thoắt mất, chợt có chợt không, chẳng chơn thật; đối chỗ uyên nguyên thì chẳng có một pháp nào, chỗ không một pháp nào khởi sanh, khởi diệt là Phật pháp. Thế nên nói Phật pháp là Phật pháp, chẳng hai, cũng chẵng khác. Người chợt tỏ ngộ ngay trong chỗ ấy tự biết như thật rằng các pháp thật chẳng hai: chẳng Sanh, chẳng Diệt - chẳng Sạch, chẳng Nhơ - Chẳng Tội chẳng Phước - Chẳng Sanh-tử, chẳng Niết-bàn - Chẳng Tối, chẳng Sáng - Chẳng Tăng, chẳng Giảm vv... Tất cả đều bình đẳng, không đối đãị Ngay chỗ bình đăng, không đối đãi này là Phật pháp, là pháp môn bất nhị, là chỗ cùng tột thanh tịnh mà ngôn từ, chữ nghĩa đối với nó đều vô tác dụng. Đến chỗ đó cũng mới tự rõ rằng chẳng gì gọi là pháp, mà lúc chưa tỏ chỉ tạm mượn dùng làm phương tiện mà tạm gọi là pháp để biết đường tu hành mà thôi, khi đã tỏ ngộ, ngay đó phương tiện cũng chẳng còn, tự triệt tiêu không lưu dấụ
Tóm lại Phật pháp là pháp chẳng hai nhưng cũng chẳng phải một, chẳng phải khác, bỡi không còn đối đãi; Phật chỉ tạm mượn làm phương tiện để dẫn dắt chúng sanh, một khi chợt tỏ ngộ thì thật chẳng còn pháp chi, bao nhiêu phương tiện đều cháy sạch, thậm chí đến những chữ như Thánh, Niết-bàn, chứng, đắc... đều cũng chẳng còn, hay nói rõ hơn ngay cả Niết-bàn cũng chỉ là danh phương tiện Phật dùng trong chỗ cực thanh tịnh, hoàn tòan tịch diệt, đến chỗ này ngôn ngữ chẳng thể với tớị Người tu Phật thâm nhập đến chỗ này cũng có thể gọi là đạt đến bình đẳng tánh vậỵ
Trong Kim Cang Kinh Phật thuyết rất rõ, những ai tự xét mình có căn trí cao dày, sáng suốt, phước duyên gồm đủ nên nỗ lực tự thân đọc tụng, nhất là lại có được các bậc Thiện tri thức hướng dẫn, chỉ dạy ắt mau thành tựu công đức.
Chúng tôi xin mở ngoặc nơi đây môt chút để nói về ba chữ "Thiện-tri-thức". Thông thường ngày nay, ai trong chúng ta khi gặp các vị Tôn túc trong Đạo, hoặc các Cư sĩ tu hành có chuẩn mực thường hay gọi tâng bốc là "Thiện tri thức", hoặc thậm chí có khi gọi, xưng hô nhau là "Đại Thiện tri thức", điều ấy chẳng những không đúng tí nào mà vô tình có lỗi cùng chư Tổ, những bậc Thiện tri thức thật sự. Như trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ nói : " Thiện tri thức là những người đã lìa tứ tướng (vô ngã, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả), đã đắc pháp. Bậc Đại Thiện tri thức là những vị thông tột pháp Đại thừa và Tối Thượng thừa, có nhân duyên lớn với thế gian mà thị hiện hóa độ chúng sanh, để cho họ được thấy tánh". Nếu đã biết thế chúng ta nên dùng từ ngữ cho thật chính xác, đúng người, đúng lý kẻo vô tình mắc lỗi với các Ngàị Nếu đã cùng tỏ, có thể gọi nhau là "tri thức" được rồị
Bỡi Pháp sư Aán-Tông giảng Niết-Bàn Kinh nên Ngài Huệ Năng mới dẫn kinh và nói rõ hơn theo pháp chỉ thẳng đưa Pháp sư trực nhận Trung đạo mà khai mở tự tâm, tỏ rõ tự tánh .
Đại ý Bồ tát Cao Quí Đức vương hỏi Phật :- Những người quá đại ác (chẳng phải ác bình thường) có mất Thiện căn Phật tánh chăng ?
Phật trả lời : Thiện căn có hai, một là thường, hai là vô thường, còn Phật tánh thì chẳng thường cũng chẳng vô thường, nên chẳng dứt đoạn, vì thế gọi là không haị
Một là thiện, hai là bất thiện, còn Phật tánh thì chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện nên gọi là pháp không haị (Vì thế Thiện căn Phật tánh chẳng mất).
Đối với ngũ uẩn và thập bát giới, phàm phu thấy có hai, nhưng bậc trí giả đã rỏ tánh này không hai, tánh chẳng hai này là Phật tánh.
Bỡi mê nên chấp ngã, chấp pháp rồi khởi tâm phân biệt Thiện ác, phải trái, hơn thua, lành dữ, tốt xấu ... trôi lăn trong vọng tưởng đảo điên, làm mê mờ tự tánh. Thế nên Phật đã trả lời cho Bồ tát Cao Quí Đức Vương rất rõ ràng. Một khi tỏ ngộ sẽ chợt nhận ra rằng Phật tánh thì không hai, chẳng thiện chẳng ác, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng sạch, chẳng dơ, chẳng thêm chẳng bớt, ngay trong chỗ bình đẳng .
Ở chỗ này, tổ Huyền Gíác đã nói rất rõ trong Chứng Đạo Ca :
"Vô minh thật tánh tức Phật tánh - Aỏ hóa không thân tức Pháp thân"
Và Phật cũng từng nói : "Phiền não tức Bồ-đề, Sanh tử tức Niết-bàn" há chẳng rõ lắm sao!
Chúng tôi xin cử ra đây một thiền ngữ để bổ túc cho thêm phần sáng ở chỗ thiện và chẳng thiện , sạch dơ, thường đoạn ở trên, mà ai trong chúng ta nếu lanh cơ, sẽ ngay đây cũng dễ tỏ ngộ.
"Có người hỏi Ngài Tuệ Trung Thượng sĩ:
" Thế nào là pháp thân thanh tịnh?"
Ngài Tuệ Trung trả lời:
" Ra vào nước đái trâu, nghiền ngẫm trong phân ngựạ "
Hãy tham. Biết đâu tham chưa đến thời tán thân mất mạng, cái thứ nước đái trâu, thứ phân ngựa kia cũng không làm gì vướng mắc, dính dấp đến khi chúng ta ra vào, nghiền ngẫm, lại còn ung dung tự tại, đi dọc về ngang trong nó thì hay biết mấỵ Đến nước đó thì mặc sức vỗ tay cườị
Ngài Huệ Năng là một Đại Tổ sư của Thiền tông Trung Hoa, là người đầu tiên xiển dương Pháp môn Đốn giáo qua thực tiễn trong chính dòng sống.
Với Pháp môn này, chư Tổ đều nói đây là Đại thừa, là Tối Thượng thừa pháp, chỉ dành cho những ai căn trí cao dày, phước duyên gồm đủ, tu pháp môn này rất mau kiến tánh. Còn người bình thường, căn trí, tín tâm không đủ thì rất dễ không tin, dễ đem lời dèm báng mà tự tạo nghiệp tộị Vậy chúng ta hãy nên cẩn thận.
Trang MỤC LỤC
Trang chính