![]()
BẤT LẬP VĂN TỰ
GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN
TRỰC CHỈ NHÂN TÂM
KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT
Trước đây gần một ngàn rưởi năm, khi vừa đến Trung-Hoa truyền-bá Tâm pháp, Bồ-Đề Đạt-Ma đã nêu rõ Tông-chỉ của mình khi dõng-dạt tuyên-bố :
Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.Và cũng chính từ cột mốc thời gian này trên đất Trung hoa, Tâm pháp (hay còn gọi là Thiền tông) thực sự có chỗ đứng vững chắc, phát triển ngày càng lớn mạnh, lan tỏa và thâm nhập đến các nước lân cận như Nhật bản, Triều tiên, Việt nam, ảnh hưởng và tồn tại mãi đến tận ngày nay. Mặc dù Pháp môn này đã được chính đức Phật phát minh và hai mươi bảy vị Tổ Thiền tông Ấn độ nối tiếp xiển dương không gián đọan, nhưng qua sử sách, chúng ta thấy trong một khoảng thời gian dài sau Phật, tại chính đất Phật, pháp môn này chưa được quảng bá sâu rộng và thật sự rõ nét lắm.
Ở đây, trong một bài viết hạn hẹp, chúng tôi chỉ nêu lên một vài nhầm lẫn mà người thời nay thường mắc phải, khi đối diện với chữ nghĩa của câu tuyên bố trên, mà qua đó, đã có người, tuy không còn chấp Ngã nhưng lại rơi vào chấp Pháp, nên thể hiện cách hiểu biết lệch lạc về Tông chỉ của Bồ-Đề Đạt-Ma, dẫn đến việc hành trì không đúng pháp, chẳng những vô bổ mà lại còn tai hại cho việc tiến tu là đằng khác.
BẤT LẬP VĂN TỰ Không dùng chữ nghĩa, ngôn ngữ. Bất lập văn tự ở đây chẳng có nghĩa là hoàn toàn không dụng đến ngôn từ , chữ nghĩa như nhiều người thường nhận lầm, hiểu lầm qua cách định nghĩa từng lời, từng chữ một cách máy móc và giản đơn. Phải hiểu cách rốt ráo, rằng Tông chỉ của Ngài Bồ-đề Đạt-ma không ràng buộc vào ngôn ngữ, chữ nghĩa hay triệt để y cứ vào kinh điển theo thứ lớp mà truyền pháp, tức cũng có nghĩa Tông môn này không ra ngoài chánh pháp mà hơn hai ngàn rưỡi năm trước đức Phật đã truyền cho Sơ tổ Ấn độ Ma-ha Ca-Diếp, ngay giữa hội Linh sơn khi Phật đưa tay có cầm nhành sen vàng giơ lên trước đại chúng, mà tất cả đều ngơ ngác, duy chỉ có Ngài Ma-ha Ca-diếp đã nhìn Phật mỉm cười lãnh thọ Tâm pháp, cũng là pháp thượng thừa tối vi diệu "Không pháp" từ đức Phật. Phật đã ấn chứng việc truyền thừa Tâm pháp cho Tổ Ca-diếp qua lời tuyên bố trước đại chúng: ‘ Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, Pháp môn vi diệu, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp.’
Và sau đó chính bài kệ truyền tâm ấn của Phật cho vị Tổ đầu tiên của pháp môn này (Ma-ha Ca-diếp) đã nói lên tất cả ý nghĩa của nó :
Pháp bổn pháp vô pháp,
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời,
Pháp pháp hà tằng pháp.Dịch :
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay hồi trao không pháp
Các pháp đâu từng pháp.Qua sự việc Thế tôn tay đưa nhành sen trước đại chúng (thầm trao Tâm pháp), chúng ta nào thấy Phật có thuyết pháp gì ở đây đâu, thế mà ngài Ma-ha Ca-diếp ngay đây trực nhận yếu chỉ. Bỡi đây là Tâm pháp, một pháp môn tối vi diệu của Phật giáo mà Phật cũng như chư Tổ sau nầy thường gọi là Tối thượng thừa pháp, dành để chỉ dạy cho những người căn trí cao, phước sâu dày, và có duyên với Phật thừa vậy. Há chẳng phải như thế sao, khi mà cả đại chúng trong hội Linh sơn đều mờ mịt, duy chỉ có mỗi một đệ tử tối ưu của Phật, đệ nhất đầu đà Ma-ha Ca-diếp mới lãnh hội được yếu chỉ của pháp môn nầy mà thôi. Tâm pháp hay Không pháp, cũng còn gọi là Thiền tông, từ sau Phật, tại chính đất Phật, đã được Tổ-Tổ trao truyền không gián đoạn, mãi đến Tổ thứ hai mươi tám của Ấn độ, ngài Bồ-đề Đạt-ma, và Ngài cũng chính là Sơ tổ của Thiền tông Trung hoa vậy.
Với Tâm pháp, không dùng chữ nghĩa, ngôn từ chẳng có nghĩa là không dùng gì cả mà có thể truyền pháp được, mà chữ nghĩa, ngôn từ hay hành động của các Thiền sư vượt thoát khỏi tri kiến nhị nguyên, không dính dấp, ràng buộc với kinh điển, hoặc liên hệ trực tiếp với sự việc đang được người đối diện đề cập đến theo vọng tâm phân biệt của họ, hay nói chính xác, lối dùng ngôn từ hay hành động có tính cách khai thị của chư Tổ thiền tông tuông ra từ cảnh giới tự chứng giải thoát, vượt quá giới hạn của thế trí để ngay đó phương tiện mở lối (khai thị) giúp người đối diện bất giác ngoảnh đầu, chỉ sátnna toàn bộ trí hiểu biết của tâm phân biệt cố hữu bị xóa sạch, như "mây đen qua trăng lộ sáng", đưa người đối diện trực diện Trung đạo, nhận rõ tự tánh (ngộ) để từ đây sống chơn thật với chính mình, cũng là sống đồng bổn lai tự tánh, cũng là Phật tánh (nhập) của mỗi người mà tu hành để tự giải thoát. Đến chỗ nầy, nói tu hành mà trong đây thật chẳng có gì gọi là tu nếu đã tự sống chân thật với chính nó, với tự thể tánh trọn thanh-tịnh, thì không còn đối đãi. Đến chỗ này ngôn ngữ chẳng thể với tới, mà chỉ có thân chứng mới tự tri, như chư Tổ thường nói, uống nước nóng lạnh tự biết vậy.
Nếu diễn-tả được trạng thái tâm thể này qua ngôn từ , chữ nghĩa thì Bồ-Đề Đạt-Ma đã có đề cập đến chữ Vô Tâm mà ý nghĩa là chỉ thể tánh Không -Vô tướng -Vô tác,Lục tổ Huệ Năng khi dùng pháp dạy người thì dụng chữ Không tướng - Vô Niệm - Vô trụ, gần đây nhất thì Sư Đại Lãn thể hiện nó qua tự thể và diệu dụng của tánh bằng ba cụm từ Không tịch - Đương Niệm - Vô phân biệt, gồm lại thì một trong ba, phân ra thì ba trong một, nhưng nói cho rốt ráo vẫn chỉ một, chỉ tùy ở chỗ động-dụng của thể-tánh mà nói ba. Tuy-nhiên, dù dụng trăm lời ngàn chữ có lẽ cũng không thật rõ-ràng bằng câu thốt trực ngộ của Lục Tổ Huệ-Năng khi được Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn giảng Kim-Cang Kinh, đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" Ngài đã bất giác thốt lên :
"Hà kỳ Tự tánh bổn tự thanh-tịnh,
" Hà kỳ Tự tánh bổn bất sanh diệt,
" Hà kỳ Tự tánh bổn tự cụ túc,
" Hà kỳ Tự tánh bổn vô động diêu,
" Hà kỳ Tự tánh năng sanh vạn pháp."
Dịch:
Không dè Tự tánh vốn tự thanh-tịnh,
Không dè Tư tánh vốn chẳng sanh diệt,
Không dè Tự tánh vốn tự tròn đầy,
Không dè Tự tánh vốn không lay động,
Không dè Tự tánh năng sanh các pháp.Trong pháp dạy người, tùy căn cơ duyên nghiệp cao thấp, nặng nhẹ của từng người mà các vị Tổ thiền tông tự biết phải có những câu hỏi hoặc đáp khác nhau, hoặc có khi ngậm miệng chẳng nói năng, hoặc có lúc lại dùng hèo, dùng gậy, cú , đấm, vv… để khai thị kẻ đối diện hốt nhiên tỏ ngộ tự tánh.
Với lý đạo, tất cả các pháp đều như huyễn hoá. Ngôn từ, chữ nghĩa, dù là chữ nghĩa trong kinh điển đều cũng không ra ngoài tướng ảo hóa nầy. Mà đã là tướng ảo hóa thì làm sao có thể dùng nó để diễn tả, hay nói lên chỗ cùng tột chơn thật của đạo được. Phải là tự chính mình lìa được tất cả các tướng ảo hóa này mới mong lọt vào cửa đạo. Thế nên Sơ tổ Bồ-đề Đạt-ma khi nói "Bất lập văn tự" chẳng có nghĩa là hoàn toàn không dùng văn tự, mà có nghĩa là không dụng "Tướng" của văn tự, ngôn ngữ để truyền pháp vậy. Không dùng tướng văn tự, cũng có nghĩa là lìa văn tự, vượt thoát trên văn tự, không văn tự. Không văn tự ở đây tức lìa các tướng, để ngay đó tự không gì vướng mắc, trói buộc, tức là giải thoát vậy. Đây chính là chỗ hàng hàng châu ngọc tuôn ra từ cảnh giới giải thoát, nói thật nhiều mà thật chẳng có gì gọi là nói, cũng như cái im lặng vi diệu như sấm, như sét của Phật và chư Tổ, chẳng nói nhưng thật đã nói, đã chỉ quá rõ ràng, trọn vẹn, tất cả đều phơi bày trước mắt chúng ta. Ở chỗ này, trong Kim-cang kinh, Phật đã phơi bày tất cả ruột gan, tha thiết chỉ bảo, nói xa nói gần với các đệ tử của mình: muốn vào tri kiến Phật phải nghe, phải thấy, phải hiểu "trên lời, vượt ý" khi Ngài nhắn nhủ : ‘ Suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp mà môi ta chưa hề động.’ Sự vi diệu và chân thật chính là chỗ này vậy.
Khi dạy người, ngôn từ hay hành động vượt thoát của các Ngài không ngoài mục đích trợ giúp phương tiện cho người đối diện lìa kiến chấp, tự xóa tan toàn bộ vô minh (mà con người tập nhiễm từ lâu đời lâu kiếp) mà họ đã tự nhận lầm vì chấp ngã qua cái biết của lục căn, lục thức. (Thật ra, cái biết đó chính là cái biết của vọng tưởng, của sanh tử nhưng cũng ít ai dám quay lưng lại với nó được, bỡi nặng chấp ngã) Một khi vô minh đã bị triệt tiêu, ngay đó nhận rõ thật tánh của các pháp , cũng là lúc tự mình khám phá được chính mình vậy.
Đối với Phật pháp, dù tu pháp môn nào đi nữa mà qua chữ nghĩa, ngôn từ thì chúng cũng chỉ là phương tiện dẫn dắt, dò dẫm, quan sát bên ngoài mà thôi, bỡi chúng (ngôn ngữ), thậm chí kể cả tri thức cũng đều là sản phẩm hư giả (hữu-tướng) của vọng tâm sanh diệt, nên chẳng thể thâm nhập, với tới được chỗ thật tướng mà không tướng, vô sở đắc của chơn tâm, cảnh giới của Thánh trí tự chứng, nhất như, phi sanh diệt.
Chúng ta hãy lắng xem những lời hỏi đáp của các vị Tổ về chỗ này để được rõ hơn.
" Một hôm Thần Quang tha-thiết cầu hỏi Sơ-tổ Bồ-đề Đạt-ma: Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng ?"
Sơ-Tổ đáp :
" Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ người khác mà nhận được."
Câu đáp của Sơ tổ đã khẳng định một cách rõ ràng rằng, ngôn từ (sắc tướng thể-hiện của vọng tâm phân biệt, của sanh diệt) chẳng thể thâm nhập, với tới chỗ cùng tột của đạo được.
" Một hôm Triệu Châu hỏi Tổ Nam Tuyền :
" Thế nào là Đạo ?"
Nam-Tuyền đáp :
" Tâm bình thường là Đạo."
Triệu-Châu hỏi tiếp :
" Có thể tiến đến được không ?"
Nam-Tuyền đáp :
" Vừa nghĩ tiến, chợt trái."
Triệu-Châu hỏi tiếp:
" Không nghĩ làm sao biết được Đạo ?"
Nam-Tuyền đáp :
" Đạo chẳng thuộc biết hay chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt Đạo thì chẳng nghi. Thí như hư không, thênh thang, rỗng rang đâu có thể nói là phải hay quấy."
" Ngay câu đáp này, Triệu Châu chợt ngộ lý Đạo."
Qua sự khai thị của Tổ Nam Tuyền, ngài Triệu Châu bất giác ngoảnh đầu, chỉ sát na đã tự đốt cháy, phá nát cái biết và chẳng biết của dòng vọng thức vô minh, biến hiện, hư ảo, vì chấp ngã mà đã bị chúng đánh lừa, ràng buộc, níu kéo, vây phủ, để ngay đó Ngài trực ngộ chơn tâm, nhận rõ thật tánh của các pháp.
Cái biết của tri thức cũng như ngôn từ thể hiện tri thức chẳng thể với tới, chẳng thể thâm nhập được đến chơn thể của tâm.
Thế nên, khi Nhị tổ được Sơ tổ khai thị, tỏ ngộ bổn tâm, " " Ngài trình Thầy :
" Con đã bặt hết các duyên."
Tổ Đạt-ma bảo :
" Coi chừng rơi vào ‘Không.’"
Nhị tổ Hue Khả thưa:
" Rõ ràng thường biết làm sao ‘Không’ được."
Tổ Đạt-ma hỏi:
" Tại sao chẳng rơi vào ‘Không’ ?"
Ngài Huệ khả thưa :
" Rõ ràng thường biết, nói không thể đến."
Khi đó Tổ Đạt ma mới nói :
" Đây là chỗ Tổ, Phật trao truyền, Ông như thế, ta cũng như thế."
Đến chỗ này, ngôn từ chẳng còn tác dụng, chẳng thể hiển thị nó bằng lời, và đó cũng chính là chỗ thậm thâm vi diệu của Phật tâm tông . Trước một giây, sau một giây, một con người được hoàn toàn lột xác, từ cảnh giới ràng buộc khổ đau vì tử sanh trong giòng thế tục, thoát (nói thoát mà chẳng có lằn biên để thoát, chỉ tại ngay đó, cũng như nói ‘qua-bờ-kia’ mà thật chẳng có bờ, chỉ ngay đó, sát na bất chợt trong tâm thể mà có đổi khác, như giữa cái ngủ mê chiêm bao và chợt tỉnh, chẳng có thật cái ranh giới giữa mê và tỉnh) sang cảnh giới của tự do không ràng buộc, an nhiên tự tại, làm chủ một ông chủ duy nhất, không trước sau, không còn mất của chính mình. Chỉ sát na, chợt tỏ thì gồm tất cả. Thế nên nói, Tâm pháp riêng dành cho những người phước duyên gồm đủ, căn trí cao dày là không ngoa vậy.
Chúng ta cũng nên để ý thêm một chút đoạn sát hạch của Sơ tổ Đạt-ma đối với các đệ tử của Ngài để hiểu rõ thêm về Tâm tông và riêng câu ‘Bất lập văn tự’.
" Trước khi về chốn cũ, Đạt-ma Tổ-sư kêu các đệ-tử đến và nói:
" Ta sắp ra đi, vậy các ngươi hãy trình ra sở đắùc của mình."
Đạo Phó bạch:
" Theo chỗ thấy của con, muốn rõ Đạo thì chẳng chấp cũng chẳng lìa văn tự."
Tổ đáp:
" Ngươi được phần da của ta."
Bà Ni Tổng trì nói :
" Chỗ thấy của con như cái vui mừng được thấy Bất động Phật (A-súc Phật), chỉ thấy một lần rồi thôi."
Tổ đáp :
" Ngươi được phần thịt của ta."
Đạo Dục bước ra thưa :
" Tứ đại vốn không, ngũ uẩn chẳng thật có, chỗ thấy của con chẳng một pháp nào có thể được."
Tổ đáp :
" Ngươi được phần xương của ta."
" Cuối cùng đến phiên Huệ-Khả, ngài bước ra đảnh lễ Tổ rồi đứng im một chỗ, chẳng bộc bạch gì."
Tổ bảo:
" Ngươi được phần tủy của ta."
"Rồi ngay đó Tổ phó-chúc, trao truyền tâm-ấn và y bát cho ngài Huệ Khả làm Tổ thứ hai Thiền tông Trung hoa."
Mẫu đối thoại trên làm rõ nghĩa thêm bốn chữ "bất lập văn tự" : ngôn ngữ chỉ là phương tiện và ở bên ngoài, như tay chỉ trăng, mà cũng như gãi ngứa ngoài giày, gió thoảng trên đá.
Muốn thâm nhập Bát nhã trí, người tu phải tự nỗ lực vượt thoát khỏi phương-tiện, kiến giải của thế trí phân biệt. Tạm thí dụ, lập ra phi đạo (dụ cho kinh điển) là con đường để cho chiếc phi cơ ( dụ cho người tu-hành để giải thoát) dùng làm phương tiện nương tựa, lấy đà bay vút vào không trung (giải thoát) , nhưng phi cơ có bay được hay không là tự lực của phi cơ, cần nhiều yếu tố như có người biết lái không (tu đúng pháp, có Thiện tri thức dẫn dắt), cánh quạt hay động cơ phản lực có đủ công suất tương ứng để nâng phi cơ không, máy có hoạt động tốt và đủ nhiên liệu không ( dụ cho căn trí thấp cao, duyên nghiệp nặng nhẹ, công phu tu hành) . Nếu đầy đủ các yếu tố ấy, phi cơ sẽ nương phi đạo làm phương tiện, lấy đà mà bay vút vào không trung (dụ cho cứu-cánh giải-thoát) ; còn ngược lại các điều kiện ắc có nhưng không đủ thì phi cơ vẫn nằm ỳ ra đó, hay có chạy được trên phi đạo mà không tự cất bổng lên được khỏi đường băng thì phi đạo vẫn luôn là phi đạo, mà phi cơ nằm trên phi đạo qua thời gian cũng chỉ là đống sắt vụn để rồi phải bị đào thải, hoặc được người chế tạo vật này vật nọ vv… nối tiếp mãi không ngừng nghỉ. Chúng sanh cũng vậy, đối với luật tắc nhân quả, nếu chẳng tự giải thoát được thì nghiệp luân hồi sanh sanh, hóa hóa cũng cứ đeo đẳng không dừng nghỉ.
Đối với người học đạo, có vượt thoát khỏi tri kiến phàm phu, cái thấy, nghe, hiểu, biết của sắc tướng, của vọng chấp phân biệt, có trên lời vượt ý thì mới có cơ hội thâm nhập Trung đạo, ngộ tự tánh, sống đồng một với chính nó mà tự thể hiện cứu cánh giải thoát ngay trong cuộc sống.
Bỡi thế trong nhiều kinh điển, chúng ta thường bắt gặp những câu nói của đức Phật, phá chính cái chấp ngã, chấp pháp cố hữu của chúng ta, dẫn dắt chúng ta lìa tướng của chữ nghĩa, ngôn từ để trực nhận thật tánh của các pháp, mặc dù kinh điển cũng được hình thành từ chính những lời dạy của Ngài: ‘ Pháp Ta thuyết dụ như bè, pháp còn phải bỏ huống là phi pháp’ hoặc ‘ Bằng có người nói Như-lai có thuyết pháp tức huỷ báng Phật, chẳng rõ nghĩa của Ta nói’ (Kim cang kinh) ….
Người tu Phật có thực sự vượt thoát khỏi cửa ải này, cửa ải kiên cố của kiến chấp "Ngã-Pháp" thì con mắt tâm tự khắc mở toang, trước sau chẳng gì che dấu.
Trong Kim cang kinh, Phật khai thị cho chúng ta thật quá rõ ràng ý nầy qua câu hỏi dẫn dắt của Ngài và được Không Sanh Tu-bồ-đề trả lời Ngài mà cũng là những lời dạy ân cần và chân thật đối với chúng ta:
" Tu-bồ-đề ! Nhược nhơn ngôn : Phật thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Tu-bồ-đề ! Ư ý vân hà ? Thị nhơn giải ngã sở thuyết nghĩa phủ ? Phất dã, Thế tôn. Thị nhơn bất giải Như lai sở thuyết nghĩa. Hà dĩ cố ? Thế Tôn thuyết ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến tức phi ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, thị danh ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến".
" Này Tu-bồ-đề ! Bằng có người nói rằng Phật nói : Ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Này Tu-bồ-đề ! Ý Ông thế nào ? Người ấy có tỏ rõ được nghĩa lý của Ta nói không ?
" Thưa không, bạch Thế-Tôn. Người ấy chẳng tỏ rõ nghĩa lý của Phật nói. Bỡi cớ sao ?
Bỡi vì Phật nói ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến đó, nhưng chẳng phải (thật có) ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, chỉ tạm gọi (giả danh, cưỡng danh) là ngã kiến, nhơn kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến mà thôi."
Cái ‘Kiến’mà Ngài Tu-bồ-đề xác lập trước Phật và chỉ rõ cho chúng ta ở đây chính là cái thấy biết vô phân biệt, vượt thoát khỏi ngôn từ, vượt trên chữ nghĩa, chẳng trụ chấp vào các pháp tướng; cái thấy biết này là thấy biết của chơn tánh, cái thấy biết của ‘vô niệm,Vô tâm, tức tâm tức Phật’ mà trước niệm không sanh, sau niệm không mất, cái biết của mắt Bát nhã, trong sáng tròn đầy lặng lẽ chơn thật, là ngộ, là kiến tánh vậy. Cái thấy biết nầy chính là cái thấy biết từ cảnh giới tự chứng của giải thoát, đồng một chỗ với cái nói tuông trào như như của Phật suốt bốn mươi chín năm, mà như Ngài thường nói, môi chưa hề động. Cái ‘Biết’này xuất phát từ sự diệu dụng ở chỗ uyên nguyên, thanh tịnh, bất động, trùm khắp mà văn tự, ngôn ngữ chẳng thể với tới được, chỉ có tự chứng tự tri, tự ngộ chợt biết, như người câm chiêm bao chợt tỉnh, thật khác xa với cái thấy biết, cái nói năng, chỉ trỏ phàm tình xuất phát từ dòng vọng thức, vọng tưởng, của mê mờ, sanh diệt.
Thế nhưng thời này vẫn còn nhiều người nhận lầm, cứ chấp chặt vào chữ nghĩa, câu cú, dùng kiến thức của tâm phân biệt, của vọng mà lý giải từng lời từng chữ, cho là bất lập văn tự thì không còn dùng ngôn từ, chữ nghĩa để rồi cũng bắt chước người xưa hoặc ngậm miệng vung tay, gậy huơ, chân đá, há mồm, nhắm mắt hoặc nói những câu vô nghĩa lý, mà thật ra chính họ cũng chẳng hiểu một chút ý nghĩa gì qua lời nói hay hành động quái quỉ của chính mình, nếu không muốn nói tất cả đều chỉ là khỉ làm trò, vẹt học nói tiếng người. Hoặc lại có người vì nặng chấp ‘Pháp’ nên nhầm lẫn bảo rằng, không dùng văn tự, ngôn-ngữ mới có thể thâm nhập đạo được, các Sư bây giờ nói năng, viết lách làm gì cho phí sức!? Thật tội nghiệp cho những kẻ lầm lạc! Bỡi quý Thầy, quý Sư ấy, thậm chí chư Tổ xưa nay, nếu không có miệng để nói, không có tay để viết thì tâm trí chúng ta làm gì có được cái sáng như ngày nay.
Họ đâu biết rằng mỗi lời nói hay hành động giản đơn của các Thiền sư, mà tai chúng ta nghe, mắt chúng ta thấy, dường như chẳng chút dính dấp gì đến sự việc mà người tham hỏi đề cập, đó lại chính là ngôn từ, hành động vượt thoát khỏi cái biết của thế trí sanh diệt, dòng thức tưởng của vô minh, được các Ngài tùy chốn tùy thời áp dụng chính xác cho từng căn cơ của người đối diện ,để ngay đó, những ngôn từ, hành động không chút vướng mắc, trói buộc này (mà phàm phu như chúng ta thường cho là những lời nói, hành động vô nghĩa), chợt thành những bài pháp như sấm, như sét trực chỉ ngay tâm, nổ trực diện trên đầu trước mặt; đập bể, phá nát, tháo tung toàn bộ kiến chấp của tâm phân biệt cố hữu, ngay đó mở lối cho kẻ căn cơ trực nhận chính mình.
Chúng tôi xin cử ra đây vài câu chuyện nhỏ mà Tông chỉ ‘bất lập văn tự’ được các Thiền sư áp dụng trong pháp ‘dạy người mở trói’, mà đời sau gọi là Công án Thiền, để minh chứng cho lối dùng ngôn ngữ, hành động vượt thoát của các Ngài, nói mà thật chẳng gì nói, làm mà thật chẳng gì làm, cũng như để nếu ai lanh cơ thì ngay đây cũng được dự phần.
l. " Sư Lâm Tế theo học ở núi Hoàng Bá. Một hôm Thủ tọa là Trần tôn Túc hỏi :
Sư Lâm Tế bạch: Ba năm.Thượng-tọa ở đây được bao lâu ? Bạch: Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì.Đã từng tham vấn chưa ? Sư liền đến tham hỏi , chưa dứt câu bị Hoàng Bá vung gậy đánh liền.Sao không đến hỏi Hoà thượng, thế nào là đại ý Phật pháp. Sư trở xuống, Thủ tọa hỏi: thế nào rồi ?
Sư thưa: Tôi hỏi chưa dứt lời Hoà thượng liền đánh, tôi chẳng hội.
Thủ tọa Trần lại giục: Nên đi hỏi nữa .
Sư lại đến hỏi . Hoàng Bá lại đánh. Cứ như thế ba lần hỏi ba lần bị đánh .
Sư đến bạch cùng Thủ tọa Trần: Thầy vì lòng từ bi dạy tôi đến tham hỏi Hoà thượng , nhưng ba phen hỏi ba lần bị đánh . Tôi buồn vì chẳng có duyên ở đây nên không thể lãnh hội yếu chỉ. Nay xin từ giã ra đi.
Thủ tọa Trần bảo: Trước khi đi nên đến chào từ giã Hoà thượng.
Thủ tọa đến thưa trước cùng Hoà thượng: Người vừa đến tham hỏi ấy, quả là bậc pháp khí. Người ấy đến từ giã, mong Hoà thượng phương tiện tiếp y, về sau đẽo gọt sẽ thành đại thọ che mát người trong thiên hạ.
Lâm Tế đến từ giã. Hoàng Bá bảo: Chẳng nên đi chỗ nào khác. Cứ đến thẳng chỗ Thiền sư Đại Ngu ở Cao An, Ông ấy sẽ vì ngươi mà nói.
Sư liền đến chỗ Đại Ngu. Đại ngu hỏi:
* Ở đâu đến ?
* Ở chỗ Hoàng Bá đến.
* Hoàng Bá dạy lời gì ?
*Con ba lần thưa hỏi đại ý Phật pháp, cả ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không ?
Đại Ngu nói : Hoàng Bá, tâm lão bà từ bi chỉ chỗ cùng tột, Ông lại trong ấy hỏi có lỗi cùng chẳng lỗi.
Vừa chợt nghe câu nói, Lâm Tế đại ngộ, liền thưa :
*Phật pháp của Hoàng Bá xưa nay chẳng nhiều.
Đại Ngu liền nắm chặt Lâm Tế hỏi :
*Con quỉ đái giầm, vừa nói có lỗi không lỗi giờ lại nói Phật pháp Hoàng Bá không nhiều; thấy đạo lý gì nói mau, nói mau!
Lâm-Tế liền tống vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông Lâm Tế nói:
* Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng việc gì can hệ đến ta.
Sư từ tạ Đại Ngu rồi trở về núi Hoàng Bá.
Hoàng Bá thấy Sư về liền bảo :
* Kẻ đến đến, đi đi kia biết bao giờ mới liễu ngộ.
Lâm Tế thưa: Chỉ vì Hoà thượng quá từ bi, nên trở về đây.
* Ở đâu về ?
* Hôm trước vâng lời dạy của Hoà thượng, đến tham vấn Đại Ngu trở về.
*Đại Ngu có nói câu gì không ?
Sư liền thuật hết mọi việc ở chỗ Đại Ngu. Hoàng Bá bảo :
* Lão Đại Ngu này thật lắm chuyện, đợi lúc gặp, ta cho ăn đòn.
Sư Lâm Tế bảo : Cần gì đợi lúc nào, cho ăn ngay bây giờ cũng được.
Nói xong Sư bước tới tát Hoàng Bá một tát.
Hoàng Bá la lên: Cái gã phong điên này lại đến trong ấy nhổ râu cọp.
Sư Lâm Tế liền hét một tiếng. Hoàng Bá gọi: Thị giả! Đưa gã điên này đến thiền đường."
Trong mẫu chuyện nhỏ nói lên tính cách khai thị mà hai vị Tổ Thiền tông đã chỉ thẳng cho Lâm Tế để ngay đây Lâm Tế trực ngộ, nhưng đối với những người căn trí tầm thường như chúng ta, khi đọc xong mẫu chuyện, đầu tiên cảm thấy mù mịt trước ngôn từ chữ nghĩa cũng như hành động của hai Ngài, sau đó vận dụng thế trí để biện luận, lý giải và cuối cùng là chẳng đi đến đâu cả (rơi vào ngõ cụt không lối thoát của kiến giải, khác hẵn Lâm Tế ,tất cả bể nát, tháo tung) để rồi thầm kết luận, cho là các Ngài có những ngôn từ vô nghĩa và những hành động quái dị.
Trong ba năm cầu học ở núi Hoàng Bá, sư Lâm Tế thể hiện là người có duyên phước sâu dày, cùng sự tinh tấn cần mẫn, nỗ lực tham học để mong đạt được yếu chỉ Phật pháp, và chính điều này đã được ghi nhận qua lời khen tặng của Thủ tọa Trần : ‘ là bậc pháp khí, có thể đẽo gọt để trở thành đại thọ, che mát người trong thiên hạ.’ Thế nhưng tự thân sư Lâm Tế thì vẫn mù mịt, tuy nỗ lực dùi mài nhưng chưa biết đường, chưa có người trực tiếp hướng dẫn, cũng chưa biết mở miệng ra sao để tham hỏi cái điều mình đang tìm kiếm mà nghĩ không ra. Chính sự gợi ý của Thủ tọa Trần đã gãi trúng chỗ ngứa của Sư. Câu hỏi mà Sư cho là Hoà thượng có thể giải đáp được để làm thõa mãn sự tìm tòi, học hỏi của Sư bấy lâu, đã thúc giục Sư tham vấn, để rồi ba lần hỏi đều được nhận ba lần trả lời chân thật đến chỗ cùng tột của lý đạo, mà tri kiến của Sư không thể với tới. Bỡi cái ‘Biết’ của Sư lúc này chính là cái biết của kiến chấp, của tâm tướng vậy. Sư Lâm Tế đã được Thủ tọa gợi ý, nên Sư đem cái kiến chấp sắc tướng ra hỏi và cố chờ đợi câu giải đáp ‘bằng lời’ về cái vô tướng (miệng mồm nào làm được !), và ở đây, Ngài Hoàng Bá đã trả lời bằng phương tiện độc đáo của mình là sẵn cái gậy ở tay để bất chợt làm tháo tung, bể nát cái kiến chấp sắc tướng cố hữu ấy, để nhờ đó Sư có thể lọt vào cữa đạo . Nhưng tiếc thay, Hoàng Bá ba lần phương tiện khai thị mà Sư Lâm Tế chẳng thể tự phá để vượt qua chính mình mà thấu lý .
Ba lần tham hỏi của Lâm Tế, Hoàng Bá ba lần không nề hà, từ bi quảng đại trả lời chân thật chỗ cùng tột lý đạo, dĩ nhiên ở đây là bằng gậy, làm chúng ta trào nước mắt, ấm ức, tiếc rẻ cho Lâm Tế, và liên tưởng đến câu trả lời cũng cùng một cách như trên mà Ngài Văn Ích đã áp dụng để khai thị cho một thầy Tăng :
" Muốn cầu tri kiến Phật, con đường nào ngắn nhất ?"
Ngài Văn-Ích trả lời:
" Chắc chắn không qua đây."
"Đây" chính là ngã chấp, cửa ải kiên cố của vô minh mà phàm phu ai cũng đều giữ chặt; nếu thoát qua khỏi nó , ngay đó tức khắc tự rõ thế nào là vô sự. Còn nếu đem ngôn ngữ lý giải để chấp thủ thì đối với tri kiến Phật, thật là ngàn trùng xa cách. Đó chính là cách dùng ngôn ngữ của các Thiền sư mà thật chẳng có chỗ dụng. Đó chính là ‘bất lập văn tự’ vậy.
Hai lối khai thị hoàn toàn khác nhau, bằng lời và bằng gậy nhưng tất cả đều cùng một chỗ phá để mở, nhưng cả hai người đều chẳng hội.
Mãi đến khi Sư gặp Đại Ngu, phải trải qua bao ngày đêm thao thức vì cố tìm tòi lý do của ba phen bị đánh, Sư đã chợt tỉnh, tri-kiến của tâm phân biệt tức thì bể nát, ngã chấp triệt tiêu, cửa đạo chợt mở, không tai mắt mà thấy nghe tất cả, ngay khi Đại Ngu đập lại bằng chính cái sơ hở mà mình bị ăn đòn ‘có lỗi, không lỗi’ . Ba lần gậy của Hoàng Bá là ba bài pháp trực chỉ, nhắm ngay vào ngã chấp cố hữu của Lâm Tế mà bổ cho bể nát, nhưng Lâm Tế lại không tự vượt qua mình để có thể vào cữa Hoàng Bá. Câu nói của Đại Ngu cũng chính là một bài pháp trực chỉ để ngay đây, cơ duyên chín muồi qua nhiều ngày đêm trăn trở, thao thức, sư Lâm Tế đã trên lời vượt ý mà tự thoát khỏi mình, thấu lý, tỏ ngộ tự tánh. Câu nói ‘Phật pháp Hoàng Bá xưa nay chẳng nhiều’ tự khẳng định Sư đã tỏ ngộ, tâm phân biệt cố hữu đã bể nát, đã lọt qua cái ‘cữa không cữa’ này ở chỗ Đại Ngu, đã nhận ra cái ‘một thật-hữu’ và câu hỏi trắc nghiệm tâm linh mà Đại Ngu đặt ra cho Lâm Tế ngay lúc ấy và được Sư trả lời một cách vượt thoát, rốt ráo bằng cái thoi vào hông Đại Ngu và Đại Ngu đã ẩn chứng qua câu nói ‘Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì đến ta’ mà hai người cùng trong chỗ ấy thầm nhận.
Đến khi Sư về trước mặt Hoàng-Bá, trình bày mọi sự việc, Hoàng-Bá lại có câu nói bâng-quơ tưởng không dính dấp nhưng kỳ thật là câu trắc-nghiệm tâm-linh về sự đạt ngộ của Lâm Tế : "Lão Đại Ngu thật lắm chuyện, đợi lúc gặp, ta cho ăn đòn".
Lâm-Tế thầm nhận cùng thầy một chỗ và tự chứng tỏ cái thấy biết vượt cách của mình bằng câu nói của đương-niệm, mà khái-niệm thời-gian và không gian chẳng còn tác dụng trong Ông ‘Cần gì đợi lúc nào, ngay đây cho ăn đòn’ và liền vung tay tát thầy.
Câu nói và cái tát của Lâm Tế xác quyết trước Thầy cái hiện thực tuyệt đối mà mình cùng thầy trong ấy đang là, vô tâm, trọn trong cái ‘bát bất’ như như , tự thân chứng ngộ.
Và cuối cùng là ngài Hoàng Bá cũng đã thầm ấn chứng sự đạt ngộ của Sư qua câu nói cuối cùng của câu chuyện là đưa Sư vào Thiền đường sau tiếng hét thể hiện cái vô sở đắt, vô sở trụ của Sư.
Qua mẫu chuyện nhỏ mà sư Lâm Tế tham vấn, được chỉ dạy và đạt ngộ, chúng ta thấy chư Tổ, qua cách dạy người vừa dùng lời, dùng gậy, dùng thoi vv… nhưng tất cả những phương tiện ấy được áp dụng trực chỉ, siêu lời vượt ý, không vướng mắc bất cứ một cái gì kể cả kinh điển để ngay đó người thượng căn thượng trí có thể nương vào mà tự thoát vô minh, cũng là tự thoát khỏi ràng buộc của kiến chấp ‘Ngã-Pháp’ để ngay đây thể nhận Trung đạo, ngộ tự tánh.
" Thiền-sư Viên Ngộ muốn thử xem Thủ Tuân có
đi dạo cạnh một đầm nước sâu, Viên Ngộ bất ngờ đẩy mạnh Thủ Tuân xuống nước. Trong phút chốc, Ngài hỏi Thủ Tuân :
Vậy thử hỏi, Ngài Thủ Tuân đã thể hiện sự chứng ngộ của mình ở chỗ nào, và Ngài Viên Ngộ đã thật sự vừa lòng đệ tử mình ở chỗ nào ?
Ở tắc Công án này, chúng ta thấy Ngài Viên Ngộ hỏi ba câu hoàn toàn thuộc Giáo điển; Ngài hỏi về hành trạng của Tổ Ngưu Đầu. Nhưng ba câu trả lời của Ngài Thủ Tuân lại chẳng chút dính dấp, ăn nhập gì với ba câu hỏi, thế mà Tổ Viên Ngộ rất bằng lòng, thầm chứng cho Thủ Tuân ngộ tánh. Thế là thế nào ?
Ở đây chúng tôi không dám làm cái việc đem Công án người xưa ra mổ xẻ, luận bàn đúng sai, phải trái vì tất cả những việc ấy chẳng một mẩy dính dấp đến việc của các Ngài, bỡi ngôn từ chẳng thể với tới. Chúng tôi chỉ lưu ý một chút, mà qua đây ai trong chúng ta lanh cơ thì cũng có thể cùng với các Ngài một chỗ.
Ba câu hỏi trong một hoàn cảnh éo le mà chỉ có người thật sự chứng ngộ, đang sống chơn thật trong một niệm mà trước niệm không sanh, sau niệm không mất, trong cái đang là, cái đương niệm tròn đầy, sáng trong ngay trước mắt, trọn trong chỗ chẳng nóng lạnh, chẳng đến-đi, chẳng động-tịnh, chẳng không chẳng có, chẳng hiền chẳng ngu, tự rõ. Đó chính là chỗ mà Viên Ngộ Đại sư bắt gặp Thủ Tuân trong ấy.
3. "Một hôm Hoà thượng Vi Sơn kêu Viện chủ. Viện chủ đến.
Vi Sơn liền bảo :
Vi Sơn lại cho gọi Thủ tọa, Thủ tọa đến. Vi Sơn bảo:
Thật khổ tâm cho Vi Sơn mà cũng tội nghiệp cho Viện chủ và Thủ tọa.
Bỡi tâm lão bà từ bi mà Vi sơn đã phơi hết ruột gan để cho Viện chủ và Thủ tọa nhận ra chỗ trụ của chính Ngài, phủ đầu và chẹn họng để hai Ông có thể ngoảnh đầu mà tự lià tất cả các tướng, khám phá chính mình để vô sự, nhưng cả hai đều chẳng hội. Thật đáng tiếc.
Có lẽ lúc nầy Ngài Vi Sơn đã quá già yếu chăng, nên ta thấy Ngài chẳng cầm nổi chiếc hèo. Chứ nếu thân thể mạnh mẽ, lại vừa có hèo trong tay sao không tặng tiếp mấy gậy vào hai ông Viện chủ và Thủ tọa, ngay đang lúc mê mờ sau câu hỏi. Biết đâu cái món thuốc cuối cùng nầy tuy không đến nỗi đắng lắm nhưng cũng có thể trị được cái căn bệnh trầm kha của hai ông đệ tử của mình lắm chứ. Hoặc giả nếu hai Ông ngay đó tức khắc trả lời được thì với tay chân khẳng kheo, già yếu của Ngài chẳng biết Ngài phải chèo chống, đỡ gạt sao đây ?
Ở đây qua hai lần hỏi mà cũng là hai câu trả lời ngầm của Vi Sơn chỉ chỗ bí áo, cùng tột, ly tướng, vô trụ để mong hai đệ tử trực nhận được chỗ của Ngài, mà ngay đó cũng đồng biết chỗ của chính mình. Nhưng tiếc thay hai Ông chẳng hội.
Tiệm Nguyên vỗ vào hòm nói: Là Sống hay là Chết ?
Đạo Ngô bảo: Sống ư ? Ta không nói. Chết ư ? Ta không nói .
Tiệm Nguyên hỏi: Tại sao không nói ?
Đạo Ngô bảo: Không nói là không nói .
Trên đường về Tiệm Nguyên nói: Mong Thầy nói cho con nghe đi. Nếu Thầy không nói con đánh Thầy ngay.
Đạo Ngô bảo: Đánh thì cứ đánh, còn không nói là không nói.
Tiệm Nguyên liền đánh Đạo Ngô.
Khi về đến chùa, Đạo Ngô bảo: Ngươi nên đi chỗ khác, kẻo Try sự biết ngươi đánh Ta sẽ khó cho ngươi. Tiệm Nguyên liền đến với Sư huynh Thạch Sương.
Sau khi Đạo Ngô đã tịch, Tiệm Nguyên đem chuyện lúc trước ra hỏi Thạch Sương.
Thạch-Sương bảo: Sống ư ? Ta không nói. Chết ư ? Ta không nói.
Tiệm Nguyên hỏi: Tại sao không nói ?
Thạch Sương bảo: Không nói là không nói.
Vừa chợt nghe, Tiệm Nguyên tỉnh ngộ.
Một hôm Tiệm Nguyên vác thuổng đi qua, đi lại trước Phật đường. Thạch Sương hỏi:
* Ông làm gì thế ?
* Tìm linh cốt Tiên sư.
Biển cả mênh mông, sóng dậy ngập trời, làm sao biết có linh cốt sư phụ ?
* Đang dốc hết sức."
Tiệm Nguyên vừa vỗ hòm vừa hỏi Thầy: ‘Là sống hay là chết’ chứng tỏ Tiệm Nguyên luôn thiết tha cầu đạo, gặp dịp là không bỏ lỡ cơ hội tham vấn.
Với tâm từ bi quảng đại, Ngài Đạo-Ngô đã mở bẹt, tháo tung mọi cánh cữa đang vây quanh trong đầu, trước mắt Tiệm Nguyên để có đường thoát cho Ông trực nhận Trung Đạo, khi Ngài trả lời một cách rõ ràng chơn thật:‘ Sống ư ? Ta không nói. Chết ư ? Ta không nói.’ Tiếc thay, Tiệm Nguyên chẳng thể vượt qua nổi cái ‘kẽ hở mênh mông’ giữa cái sống cùng cái chết ở chỗ này.
Bỡi không tự vứt bỏ được gánh nặng của tâm chấp trước vào tri kiến phân biệt, quên mình theo tiếng, nên Tiệm Nguyên mới lại có câu hỏi tiếp thật phàm phu,tầm thường: ‘Tại sao không nói.’
Ngài Đạo Ngô lại một phen từ nhẫn, cố mở cho đệ tử mình một con đường sống: ‘không nói là không nói.’ Không nói là không nói, nhưng thật ra ngay chính cái chỗ trên lời ‘không nói’ này đã nói, đã chỉ , đã phơi bày, mở tung tất cả không còn một chút gì che dấu. Ngài Đạo Ngô đã hai lần vén màn trước mặt, mà Tiệm Nguyên thì cả hai lần mê lầm bỏ qua nên không tự thoát nổi.
Đến lần thứ ba trên đường về, mới thấy lòng từ bi, nhẫn nhục của Đạo Ngô thật quảng đại làm sao, cố một lần vớt vát cho đệ tử mình, biết đâu, may ra …. : ‘Đánh thì cứ đánh, còn không nói là không nói.’ Nhưng lòng từ nhẫn của Ngài đã không được đáp lại, Tiệm Nguyên vẫn không vượt qua nổi cữa ải này, và kết quả là Ngài phải bị đòn oan vì sự mê mờ của đệ tử mình.
Bị đòn đau nhưng chẳng phải đau vì cái đánh, mà ấm-ức, khổ tâm vì Ngài đã liều, dám tự đem thân xác ốm yếu của mình ra thách thức khổ nhục để lần cuối cùng may ra có thể mở mắt cho đệ tử, nhưng than ôi, chẳng kết quả. Lòng từ nhẫn, hy sinh của các Ngài để cứu vớt chúng sanh, cao cả thay, thật không sao tả xiết.
Đến khi về với Thạch Sương, cũng ngần ấy câu vấn đáp, thế mà ngay đây Tiệm Nguyên chợt tỏ. Có thể nói rằng Tiệm Nguyên có duyên cùng Thạch Sương mà không duyên với Đạo Ngô chăng ? Có mà không, không mà có. Phải mà cũng chẳng phải, chẳng phải mà phải vậy. Đến chỗ này mới thấy lòng từ nhẫn mà cương quyết, liều thân ‘đánh thì cứ đánh - rồi bị đánh’ của Ngài Đạo Ngô lúc trước, không đến nỗi uổng vậy. Người nào tự xét căn trí linh lợi hãy tham, vượt qua chỗ ách yếu này thì dù trăm công ngàn việc cũng đều là ‘vô sự’ cả.
Khi Tiệm Nguyên đã tỏ ngộ ở chỗ Thạch Sương, Ông mới thấy được tấm lòng từ bi quảng đại của thầy mình lúc trước, thà hy sinh chịu đòn chứ nhất quyết không chịu bít lấp con đường tiến của đệ tử trong tương lai. Chính sự hy sinh của Ngài lúc trước đã hun đúc thêm cho mối nghi của Tiệm Nguyên ôm ấp khắc khoải trong lòng ngày càng thêm lớn, để đến lúc gặp duyên chín mùi nơi Thạch Sương thì bùng vỡ. Cũng một câu trả lời ‘không nói là không nói’ của Thạch Sương lần này trở thành một nhát búa trợ duyên nặng cân hơn, giúp cho Tiệm Nguyên phá nát tấm chắn mê mờ cố hữu trước mắt mà tự thoát. Giờ đây sự biết ơn của Tiệm Nguyên đối với Thầy pha chút ân hận, tự trách sự thiển trí không hội được ngay câu nói khai thị của thầy lúc trước để thầy phải lận đận vì mình, được thể hiện qua hành động vác thuổng đi tìm linh cốt tiên sư trước Phật đường, đồng thời nói lên hai việc: tạ lỗi trước tiên sư và sự đạt ngộ của mình trước Thạch Sương.
Thạch Sương đã kiểm chứng sự đạt ngộ của Ông qua câu hỏi: ‘ Biển cả mênh mông, sóng dậy ngập trời, làm sao biết có linh cốt sư phụ?’ Tiệm Nguyên đã trình chỗ tỏ của mình với Thạch Sương qua câu nói rổng rang, vô sở trụ, thể hiện cái đương niệm không chút vướng mắc, trói buộc: ‘ Đang dốc hết sức.’
Ngài Triệu Châu hỏi:
" Đã ăn cháo chưa ?"
Trả lời:
" Dạ, ăn xong rồi."
Ngài Triệu Châu bảo:
" Ăn xong rồi thì rửa bát đi.
Học tăng chợt nghe, ngay đây đại ngộ."
Cách dạy người của các Ngài ở đây thật bình thường và thực tế, thể hiện ngay trong dòng sống hiện tại, trước mắt.
Tâm lý háo hức của người cầu đạo bao giờ cũng muốn tìm, muốn hiểu lý thiền, lý đạo, có tu, có đắc. Họ đâu biết rằng càng ra công tìm thì càng xa đạo, càng muốn biết đạo thì đạo càng bị khuất lấp, bỡi đạo chẳng ở đâu xa mà ngay trước mắt. Chợt khởi tâm phân biệt, tìm cầu, dụng trí thì ngay đó tứ tướng hiện tiền, mà ngã tướng hiện (ở đây là ngã kiến) chính là bức tường kiên cố che lấp tự tánh. Người xưa nói ví chỗ này ‘Cưỡi trâu mà đi tìm trâu’ thật hay quá vậy.
Ở đây Ngài Triệu Châu đã phương tiện chỉ thẳng, trợ duyên cho vị học tăng kia bất giác ngoảnh đầu, tự đập vỡ, phá nát cái màng đen thâm u, cố hữu của ngã kiến đã che lấp chơn tánh. Nói thì lâu, nhưng tất cả những gì mà người học tăng, trước đây chỉ sát na, mê mờ tự nhận là mình (ngã chấp) giờ đều bể nát, cữa đạo mở toang, trước mắt chẳng còn gì che dấu.
Qua công án này, chúng ta còn có thể thấy lại những câu khai thị mà các Ngài đã áp dụng một cách tương tự để dẫn dắt đệ tử mình tỏ ngộ tự tánh.
" Sau khi Thế tôn Niết bàn, một hôm ngài A-nan hỏi Tổ Ma-ha Ca-diếp :
" Khi Thế tôn phó chúc và truyền y kim tuyến cho sư huynh, Ngài có truyền pháp gì riêng cho sư huynh nữa chăng ?"
Tổ Ca-diếp liền gọi:
" A-nan !"
Ngài A-nan:
" Dạ!"
Tổ Ca-diếp bảo:
" Trời chiều rồi, đem sát can vào.
Ngài A-nan nhân đây tỏ ngộ."
Tinh hoa của Thiền tông được các Thiền sư thể hiện qua ngôn ngữ một cách ‘siêu lời - vượt ý’ hay hành động vượt thoát, không dính mắc,ràng buộc bất cứ một sự vật gì để khai thị cho người, được ghi chép lại trong sử sách nhiều như cây rừng, không sao kể xiết.
Ở đây chúng
tôi chỉ xin mượn vài mẫu
chuyện nhỏ (mà chúng ta gọi là
Công án Thiền) để minh chứng
ý nghĩa đích thực của bốn
chữ Bất Lập Văn
Tự. Nói không dùng
ngôn từ nhưng ngược lại
dùng thật nhiều là đằng khác;
lời của các Ngài hàng hàng
gấm thêu, tuông ra như sao băng, bất
ngờ như điện xẹt, như sấm
sét, nhưng trong cách dụng lời
lại lìa lời, lìa vọng thức
sanh diệt, vượt thoát khỏi tri kiến
phân biệt. Ngôn từ và hành
động của các Ngài lúc nào
cũng nhanh như tia chớp, chực chờ
lóe lên để phá tan, xuyên thủng
lớp màn đen muôn thuở
của vô minh che chắn trước mắt,
trong đầu chúng ta, mà những
ai căn trí linh lợi ngay đây đoạt
cơ hội, phá nát và tự vượt
thoát khỏi màn che của kiến chấp
phàm phu cố hữu, chỉ sát na
cửa đạo mở toang, trăm mối
tự dứt, tự rõ thế nào
là vô sự vậy.
Trước hết chúng tôi xin đề cập đến chữ "Giáo"ở câu trên.
Đạo của Thế tôn là đạo Thiền. Cũng bỡi lý ấy, nên cửa Phật được người đời suy cử là Thiền môn, cửa Thiền, nhà Thiền.
Thiền có nghĩa là đem tâm thanh tịnh lặng lẽ mà suy xét đến chỗ tột cùng chân lý của sự vật; thay vì dùng từ Thiền chữ trong ba tạng kinh thường gọi bằng từ Tư duy tu, cũng có nghĩa là Tịch lự, Tịnh lự, là Định.
Tịnh lự , tịnh là tâm an định, vắng lặng, rổng rang, không động niệm. Lự là tư duy, quán xét một cách nghiêm túc, thấu đáo đến một sự vật gì. Nhờ tư duy,quán xét mà trí huệ phát khởi, lần lần tỏ thấu đến chỗ tột cùng chân lý.
Bỡi chỉ có Thiền mới có khả năng đưa con người đến chỗ tự giải thoát hoàn toàn khỏi bản ngã , nghĩa là giải phóng con người thoát khỏi thế lực của tập nhiễm vô minh, cũng có nghĩa là bỡi tập nhiễm lâu đời bao phủ mà chơn tánh bị che mờ, khuất lấp , làm cho chính mình tự xa lìa mình, quên và đánh mất chính mình mà không hề hay biết, và nhờ Thiền soi rọi phá nát, đập vỡ, đốt cháy vô minh thì chơn tánh tự lộ, không còn bị dối lừa, che chắn, và ngay đó Thiền đưa con người trở về lại chỗ chơn thật tự có của chính mình, uyên nguyên, độc hữu, không đến đi, không sanh diệt, không động tịnh, tự nó cũng không tên tuổi vì chẳng có đối đãi … tạm gọi là tự tánh, (tánh vốn tự có ) cũng là bổn lai diện mục của mình. Tự tánh hay Phật tánh chính là mặt mũi xưa nay đã từng là thế, bất biến, không hai cũng không khác, của khắp chúng sanh cũng vậy mà của chính mình cũng chỉ một nó.
Dầu ai tu Lục độ, Vạn hạnh, thực hành tám vạn pháp môn của Phật , được kết tập trong Ba Tạng Giáo kinh cũng đều phải hành trì pháp Thiền mới mong thoát ly bản ngã, thấy tánh mà tự giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Còn nếu nói tu Phật mà không hành pháp Thiền thì chẳng phải đích thực là Giáo pháp Giải thoát của Thế tôn vậy.
Bỡi căn-tánh chúng sanh có tối-sáng, nghiệp duyên tội phước có nặng nhẹ khác nhau mà pháp của Thế tôn thuyết để độ sanh có thấp cao, đốn tiệm nhưng, để đạt đến cứu cánh giải thoát, tất thảy không ra ngoài pháp Thiền. Đây là chơn lý bất biến.
c) Với những người có lòng từ bi, thích làm việc ‘tự lợi lợi tha’, muốn cứu vớt, cầu an lạc cho tất thảy chúng sanh thoát khỏi khổ đau trong nhà lửa sanh tử, thì Ngài dụ dùng cỗ xe lớn, chở nhiều, đi xa, đến nơi đến chốn, mà thuyết thiền Đại thừa, tức Bồ tát thừa, xiểng dương Lục độ, tức hành sáu hạnh tối thắng của một vị Bồ tát: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ Ba-la-mật ( Sang bờ kia). Bồ tát vì lợi ích tất thảy chúng sanh mà hành sáu Ba-la-mật này để độ sanh. Chừng nào chúng sanh không còn kẻ khổ, Bồ tát chứng nhập quả vị Phật. Đó là Bồ tát hạnh của những vị như Phổ hiền, Quán thế âm, Địa tạng vv.… Hàng Đại thừa Bồ tát y cứ vào Đại thừa Kinh mà hành trì.
d). Với người căn trí cao viễn, phước-huệ sâu dày thì Phật thuyết Tối thượng thừa pháp, cũng là Phật thừa, tức pháp thiền chỉ thẳng tự tánh Như lai (Trực chỉ), khiến kẻ đối diện, chỉ sát na trực ngộ bổn lai tự tánh, hay Phật tánh , hay kiến tánh, tức thấy ngay mặt mũi xưa nay của mình, để rồi từ đây sống chơn thật, an nhiên trong đó mà hành trì, hiện tiền giải thoát, từ tâm bộc khởi, tùy duyên mà phương tiện độ sanh, đó chính là cỗ xe tối thượng mà tiêu biểu là bài pháp trực chỉ ‘Niêm hoa vi tiếu’ của Phật trong hội Linh Sơn.
Qua bốn cỗ xe pháp (Tứ Thừa) vừa nêu, một điều mà chúng ta cảm nhận rõ nhất là cỗ xe cuối cùng Phật phương tiện chỉ dẫn chúng sanh vượt thẳng qua bờ kia, hoàn toàn không y cứ vào ba tạng Giáo kinh của Phật .
Chữ "Giáo" ở đây tức chỉ ba tạng Giáo kinh, cũng là Thiền của Giáo tông vậy.
Kể từ lúc Ma-ha Ca-diếp được Phật ấn chứng lãnh thọ Tâm pháp, Thiền tông hay còn gọi là Phật-tâm-tông, có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử phát triển của Phật giáo và hoàn toàn độc lập với Thiền của Giáo tông, cũng là Thiền của ba Thừa trên. Đó chính là ý nghĩa bốn chữ ‘truyền riêng ngoài giáo’ của Tông này vậy.
Thật ra, nói ‘Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập Văn tự, Trực chỉ nhơn tâm’ tự nó ngay đó cũng đã có nghĩa là phương tiện rồi, một loại siêu phương tiện. ‘Giáo ngọai biệt truyền’ cũng là tinh thần của ‘Bất lập văn tự’,và ‘Bất lập văn tự’ tự nó cũng đã có nghĩa là ‘Trực chỉ nhơn tâm’. Chẳng dùng văn tự chẳng khác chỉ thẳng ngay tâm, và chỉ thẳng ngay tâm để ngay đó tỏ rõ tự tánh cũng chính là pháp truyền riêng ngoài giáo, chẳng dùng văn tự. Nói gọn, hai câu đầu là dựng lập Tông chỉ, hai câu sau là nói Pháp hành.
Bỡi cũng chỉ là phương tiện, dù là phương tiện đặc-biệt, nên khi nói ’Bất lập văn tự ‘ ngay đó trên mi, tinh anh trong sáng, thanh tịnh tròn đầy, vô chung, vô thỉ như hư không; nhưng trong chỗ đó vẫn còn dính mối tơ nhỏ xíu mà bền chắc, ẩn hiện chút sắc tướng có không, thường đoạn của ‘lập’ và ‘chẳng lập’ văn tự.
Nói ‘Giáo ngoại biệt truyền’ ngay đó trăm kinh, vạn quyển cháy tiêu không lưu dấu, chẳng một vật mà quang minh sáng sủa , nhưng vẫn còn chút sợi tơ ‘giáo ngoại’ mỏng te, nhỏ xíu mà bền chắc, dính dấp, níu kéo, như con trâu qua cữa sổ, đầu sừng, bốn chân, mình mẩy qua lọt mà còn chút cái chởm chùm lông đuôi không lọt.
Nói ‘Trực chỉ nhơn tâm’, mà lúc thì như bắn đại bác vào hư không, muôn người ngơ ngác nhưng chẳng chút dính dấp, sức mẻ, như nước đổ đầu vịt, đàn khảy tai trâu, lúc lại như cái thoi trời giáng của Lâm Tế trực-diện tống vào hông Đại Ngu, để rồi ngay trong chỗ ấy cùng chợt nhận ra người quen từ muôn kiếp trước, bốn mắt nhìn nhau, khóc khóc, cười cười trời nghiêng, đất ngửa.
Ba câu một chỗ dụng, chỉ võn vẹn mười hai chữ mà cùng bổ nghĩa cho nhau để làm sáng tỏ Phật-Tâm-tông.
Sau đây chúng tôi xin cử ra một số Công án Thiền, những ‘bài pháp không-pháp’ của chư Tổ Thiền tông, để minh chứng cho Tông chỉ ‘ Bất lập văn tự’ cũng là’ Giáo ngoại biệt truyền,’ hay nói cách khác, Giáo ngoại biệt truyền và Bất lập văn tự , ý và dụng tương ưng,đồng bổ trợ cho nhau, đều là căn bản lập Tông của pháp chỉ thẳng.
" Lâm Tế nghe Đức Sơn (ngài Tuyên-Giám) dạy chúng:
" Nói được cũng bị ba mươi hèo, không nói được cũng bị ba mươi hèo.
"Lâm Tế sai Lạc Phố đến hỏi : ‘Nói được sao cũng bị ba mươi hèo?’ và dặn đợi khi nào ông ta đánh thì tống cho ông ta một thoi, xem ông ta có ý gì ?
"Lạc Phố đến hỏi y như lời Thầy dạy; Đức Sơn liền đánh, và Lạc Phố cũng tống cho ông ta một thoi. Đức Sơn liền trở về phương trượng.
"Lạc Phố đem việc này trình lại Lâm-Tế.
"Lâm Tế nói : ‘ Ta đã nghi trước cái lão hán này. Tuy-nhiên, như vậy nhà ngươi đã thấu rõ Đức Sơn chưa ?’
"Lạc Phố định nói, liền bị Sư đánh."
Ở đây ta thấy ngài Tuyên Giám Đức Sơn rất từ bi và công phu, vừa lui cui làm cửa để mời rước người vào kho báu, nhưng đồng thời lại vừa đặt bẩy và canh chừng ngay cửa để hù doạ chúng, chỉ ai lanh cơ, phá chốt bẩy sập thì cửa kia ngay đó chẳng còn, an nhiên tự lọt vào nhà báu, mà Ông ta cũng chỉ biết đứng nhìn. Bằng không thế, thì Ông ta cũng chỉ hoài công vô ích, phải nghĩ cách khác mà độ người thôi; còn đối với người, mắt thấy đầu gậy Ông chỉ, tai nghe từng lời Ông nói mà mê mê, mẩn mẩn, một khối nặng trịch, muốn dợm đi mà dở chân chẳng nổi thì chỉ có cách chờ Ông ta bày trò khác để lại thử sức, mà với tử sanh thì chờ cũng có nghĩa là chờ đợi vô thường!
Vừa đọc xong mẫu chuyện nhỏ trên, ta chợt thấy đáng tiếc cho một người và trong đây có ba người phải một phen bị ấm ức .
* Thứ nhất, ngài Đức Sơn thật ra chẳng phải ấm ức vì bị khám phá, mà chỉ ấm ức ở chỗ bị Lâm Tế giật giây, xúi người dưới trướng chẳng biết gì đến rút chốt cơ quan, chỉ ra, lột trần chỗ cơ mật của mình trước mắt mọi người.
* Thứ hai, ngài Lâm Tế quá đỗi ấm ức và thất vọng vì sự mờ mịt của đệ tử mình, bỡi chính Ông ta đã đưa đường chỉ lối một cách tỉ mỉ cho Lạc Phố đến nhà người, thừa dịp lanh chân, lẹ mắt mà vào nhà báu, và cả Đức Sơn bất đắc dĩ ,hết đường đỡ gạt cũng đành phải phơi bày của cải ra, mà Lạc Phố vẫn chẳng biết đường thâm nhập. Cái chợt mở miệng của Lạc Phố liền bị ăn hèo, chẳng biết ngay đó có thành tựu gì không thì ở đây không thấy nói; nếu cái món thuốc cuối cùng này cũng không tác dụng thì việc lãnh hèo của Lạc Phố thật chẳng oan chút nào.
* Thứ ba, chính chúng ta, những người đọc công án lại cũng bị ấm ức, ấm ức giùm cho Ngài Đức Sơn có miệng mà không mở được, ấm ức cho Ngài Lâm Tế công phu đổ sông, đổ biển, và ngay trong chỗ này, cho cả Ngài Lạc Phố.
* Thứ tư, ngay đây, trong chỗ này, tâm huyết và lòng từ bi của người Thầy trù tính một kế lớn, làm lợi lạc cho đệ tử mình, nhưng rốt cục công cốc, bất thành, thật đáng tiếc cho Ngài Lạc Phố .
Qua cách độ người, ở đây chúng ta thấy các Ngài dùng văn tự mà vượt trên văn tự, lại cũng chẳng dính dấp đến Kinh điển, chỉ có người đối diện lanh cơ, trên lời vượt ý, ngay đó chuyển não, sải một bước dài vô tận mà thấy được chính mình. Bỡi đây là cỗ xe tối thượng,nói ngay chỉ thẳng, nếu đã chợt tỏ thì tỏ ngay,bằng chưa tỏ thì mê lầm lại qua, chấp lời, chấp ý, mở miệng, nghĩ suy chẳng trúng. Tri thức nghĩ suy, ngôn ngữ biện luận đều chỉ là sản phẩm giả dối của giòng vọng thức luôn biến hiện, chẳng chút dính dấp đến chân tướng của sự vật, thật tướng mà không tướng.
"Một thầy tăng hỏi ngài Duy Khoang :
* Đạo ở chỗ nào ?
Duy Khoang trả lời :
* Ngay trước mắt.
Thầy tăng hỏi tiếp :
* Sao con không thấy ?
Duy Khoang đáp :
* Bỡi ngươi có ngã nên chẳng thấy.
Thầy tăng lại hỏi :
*Con có ngã nên không thấy, Hoà thượng có thấy không?
Ngài Duy Khoang đáp :
* Bỡi có ngươi, có ta lăng xăng nên cũng không thấy.
Thầy tăng lại thưa :
* Không con, không Hoà thượng thì có thấy không ?
Ngài Duy Khoang đáp :
* Không ta, không ngươi nào ai cầu thấy."
Vì chấp ngã mà thầy Tăng mãi mê chạy theo hình tướng, dụng lục căn, tìm Phật bên ngoài. Qua đây chúng ta thấy ngài Duy Khoang thật đại nhẫn và hết mực từ bi. Đến câu hỏi thứ hai, Ngài đã trả lời cặn kẽ mà thầy Tăng chẳng biết dòm vào trong, lại theo hình, đuổi bóng. Đến câu đáp thứ ba của Ngài làm chúng ta thật bất ngờ, nó thể hiện hết lòng từ nhẫn của Ngài đối với tất thảy chúng sanh. Ngài đã phương tiện làm một huyễn nhân đối trước một huyễn nhân, để may ra có thể nương đó khai thị mà hoá độ người, nên nói : ‘Bỡi có ngươi, có ta lăng xăng nên cũng không thấy.’
Chỗ này, hoàn cảnh của vị tăng nghe lời đáp khai thị của Duy Khoang, chẳng khác câu hỏi khai thị của ngài Duy-ma-cật đối trước Giải không Tu-bồ-đề trong kinh Duy ma, khi mà Tu-bồ-đề hoang mang, sợ hãi cực độ, đặt trả bát cơm và sửa soạn bỏ chạy sau khi nghe ngài Duy ma nói pháp.
"Thấy Tu-bồ-đề sửa soạn bỏ chạy, Ngài Duy-ma-cật nói: "Dạ, Tu-bồ-đề ! Ông hãy ôm bát đi, đừng sợ. Ý Ông thế nào ? Như có huyễn nhơn của đức Như lai tạo ra nói với Ông những lời vừa rồi thì Ông có sợ không ?"
Ngài Tu-bồ-đề đáp : "Không". "
Qua hai mẫu chuyện nhỏ, chúng ta thấy các vị Bồ tát thật từ bi quá đỗi.
Cái khác của ngài Tu-bồ-đề và vị tăng trong đây là sau khi nghe câu hỏi khai thị của Duy-ma-cật, ngài Tu-bồ-đề bất giác xoay đầu, hốt nhiên tỏ rõ được pháp ‘ tất cả các pháp đều như huyễn hoá,’ còn vị tăng thì mờ mịt trước câu đáp của Duy Khoang.
"Một ông tăng hỏi ngài Tư Phước:
* Cổ nhân giơ chùy, dựng phất tử là có ý chỉ gì ?
" Tư Phước ậm ự không thành tiếng.
Vân-Môn bảo :
"Trên tuyết thêm sương."
Hai vị Tổ cùng phương tiện khai thị cho ông tăng mà mỗi người một cách, nhưng tác dụng lại cùng một chỗ mở.
Ở đây chúng ta thấy cách dụng ngôn mà vô ngôn của ngài Tư Phước, cũng như cách dùng lời mà trên lời của Vân Môn.
Bỡi vị tăng chỉ tin vào cái nghe ở căn tai, cái thấy ở căn mắt, cái nghĩ suy, tri thức ở căn ý mà chẳng biết dòm vào trong để nhận ra chỗ cội nguồn phát sanh của cái đang nghe, đang thấy là tánh nghe, tánh thấy. Nói tánh nghe, tánh thấy v.v... nhưng thật chỉ một, một mà gồm trọn tất thảy, tùy ở chỗ động dụng mà cả thân, một đời xài chẳng hết. Sao nói một mà gồm trọn tất thảy? Bỡi một khi đã chợt nhận ra tánh thì tất thảy cùng thông, các căn đều là sản phẩm của sanh tử, ở bên ngoài, chẳng còn dính dáng tới nó. Thí như nói nước, nước thì có nhiều thứ như nước đá, nước lã, bia, rượu, nước tương, nước biển, nuớc suối v.v... tùy nơi chốn xuất sanh, chế tác mà có nhiều, nhưng nước chỉ trọn một thể duy nhất là ướt. Chợt nhận ra chỗ này thì tũm tỉm cười thầm, tự biết thế nào là làm một người cũng mắt, tai, mũi, miệng đầy đủ nhưng lại vô sự trong chốn xô bồ. Ở đây chúng ta thấy vị tăng chẳng biết tự ngó vào trong, nên mới theo cảnh mà quên mất mình, cõng Phật tìm Phật nhà người, cỡi trâu mà tìm trâu, mà bỏ qua cơ hội.
Một vị tăng hỏi Điều ngự Giác Hoàng ( Đệ nhứt Tổ Trúc lâm Trần nhân tông) :
* Thế nào là Phật ?
Điều ngự trả lời :
- Nhận như xưa là không đúng.
* Thế nào là pháp ?
- Nhận như xưa là không đúng.
* Thế nào là tăng ?
- Nhận như xưa là không đúng.
* Rốt cục thì thế nào ?
- Tám chữ tháo tung giao phó hết,
Còn điều chi nữa nói cùng Ông ?"
Ba lần hỏi Phật, Pháp, Tăng là ba lần Điều ngự Giác Hoàng trả lời cùng một câu đáp, chỉ thẳng một chỗ để cắt đứt, phá nát cái ‘túi tri kiến nuôi lớn tri kiến,’ kiến chấp cố hữu của ông tăng, nhưng chỗ này cả ba lần ông tăng cũng không tự rứt lìa ra khỏi nó được, nên chẳng lọt cửa Điều ngự. Đến câu hỏi thứ tư, Ngài đã mượn ý kinh mà phơi bày ra tất cả, nhưng vị tăng cũng chẳng tự phá nát, lìa được cái phương tiện mà ông hằng chấp thủ, nuôi lớn nó, để cuối cùng phải chết chìm với những gì mình có.
Nói thêm, một hành giả kiên cố hành trì Kim cang, chợt tỏ lý đạo, thì dù đầy một bụng chứa trọn chữ nghĩa trong ba tạng kinh điển không thiếu một phần nào, ngay đây cũng phải nổ tung, bể nát hòa trong tám chữ mà tan vào hư không. Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm Phật mượn lời để nói lên chỗ uyên áo, thâm diệu, rổng rang, vô sở đắc thể hiện bằng tám chữ có tướng mạo trên giấy, trên đá, trên gỗ, trên lời ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’ cũng là ‘Ly nhứt thiết tướng tức danh chư Phật.’Nếu lanh cơ, mắt chợt thấy, tai chợt nghe, miệng chợt há nuốt chửng tám chữ, tám chữ hoà vào mình đồng tan biến vào hư không, sát na mất tiêu không lưu dấu, ngay đó dòm lại, mình nhận ra mình.
Chỗ này vị tăng không nhạy bén nên cơ hội vụt qua, thật đáng tiếc.
"Một ông tăng thưa hỏi Điều ngự Giác Hoàng :
* Thế nào là truyền riêng ngoài giáo ?
- Con ễnh ương nhảy không khỏi cái đấu.
* Sau khi nhảy khỏi thì sao ?
- Theo chân giống ếch vùi thân nơi cát bùn.
* Thế thì cũng như nhảy không qua khỏi !
Điều ngự Giác Hoàng lớn tiếng quát :
- Gã mù kia, thấy được cái gì đấy ?
* Tôn đức gạt người ta làm gì !
Điều ngự hừ hừ. Vị tăng suy nghĩ . Điều ngự đánh. Vị tăng định mở miệng hỏi, Điều ngự bèn hét. Vi tăng cũng hét. Điều ngự nói :
- Lão tăng cũng bị Ông hét một tiếng, vậy rốt cục thế nào? Nói mau, nói mau !
Vị tăng đắn đo toan nói. Điều ngự lại hét một tiếng, nói :
- Con chồn hoang kia, vừa rồi rất linh hoạt, bây giờ ở đâu?
Vị tăng không trả lới được, đảnh lễ rút lui."
Bỡi có điều thắc mắc cần thưa hỏi, nên vị tăng đã chuẩn bị sẵn. Nhưng đây là pháp chỉ thẳng, nên vị tăng cũng phải hành xử giống như một tướng quân xung trận; câu hỏi chợt lìa khỏi miệng như một miếng ra đòn, chỉ chờ thương qua đao lại, ăn miếng trả miếng nhanh chóng, dứt khoát chẳng phải nghĩ suy, đo đắn. Bỡi chợt nghĩ suy để ra miếng thì ngay đó mất đầu.
Ở đây, câu hỏi đầu tiên ‘thế nào là giáo ngoại biệt truyền’ như một hòn chùy vừa tung ra, được Điều ngự đáp trả lại ông tăng bằng chính hòn chùy của ông tăng, thể hiện trong cách dụng ngôn trên lời, vượt ý. Với Đạo, đem ngôn ngữ, tai miệng mà muốn với tới, chẳng thể được. Phải như là chính con ểnh ương ngồi trong đấu sâu tự nhảy thoát khỏi đấu mới được, còn ngoài ra là chẳng phải. Người nào linh lợi, chỉ một câu đáp này chụp cơ hội tự phá nát xích xiềng, ràng buộc của chính mình thì tự thoát; sát na trước với câu hỏi làm giàu tri kiến ‘giáo ngoại biệt truyền’ vướng víu, trói cột lấy mình, sát na sau tự cháy tiêu tất cả vốn liếng cố hữu của mình, bất giác dòm lại, tất cả phô bày, như chiêm bao chợt tỉnh.
Ễnh ương vượt khỏi đấu,
Mặt xưa hết che dấu;
Bằng giữ chặt áo ngoài,
Té phịch, thân cám trấu.
Bỡi không hội nên vị tăng mới hỏi tiếp. Lần này, Tổ trả lời nhẹ nhàng, ôn tồn hơn, và rất chân thật. Nếu nhảy qua thì cái thân xác này cũng như hết thảy hàm linh, đã từ cát bụi ra thì khi hết duyên lại vào cát bụi, chớ có phí sức mà phải lo chi, duy cái tinh minh của mình, nếu đã biết thì tự rõ. Thí như cái bóng bay, dong rủi vào không trung, gặp duyên thì nổ, xác tơi tả lại vùi vào đất bụi, còn cái thanh khí thì hoà nhập đồng một vào hư không, chẳng có chi lạ.
Nhưng kẻ hỏi chẳng tự mình vượt khỏi chỗ này, nên suy nghĩ, đắn đo, mất cơ hội.
Đến phút chót mới thấy lòng từ bi quảng đại của Điều ngự, đã biết ông tăng không hội nổi mà cũng cố vớt vát một lần cuối cùng, biết đâu … may ra… , nên nói : ‘ Con chồn hoang kia, vừa rồi rất linh hoạt, bây giờ ở đâu ?’ Đến chỗ này vị tăng cũng chẳng phá được mù mà thấy chân tướng ‘cái linh hoạt ấy’ của chính mình từ đâu ra, nên đành phải cáo lui mà chờ dịp khác vậy.
Ở đây chúng ta thấy lối khai thị của Điều ngự, mỗi lời nói, mỗi cử động nhanh như chớp nháng, lẹ như ánh gươm, chỉ phải trong ấy nương theo cái sáng của ánh gươm, ánh chớp nhận vào phần mình mà hoá giải để tự mở con đường sống thì thoát, bằng không được thế đành chấp nhận như con ễnh ương chẳng vượt qua khỏi đấu.
"Một vị tăng hỏi Điều ngự :
* Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không ?
Điều ngự đáp :
- Miệng như chậu máu phun Phật Tổ
Răng như kiếm bén đốn rừng Thiền.
Mai kia chết xuống A tỳ ngục,
Cười ngất Nam mô Quán-Thế-Âm."
Với bậc đại tu hành, bỡi ‘không lầm nhân qua’ nên nhân quả chẳng có gì trói buộc, ảnh hưởng tới việc đến đi của các Ngài cả; ba cõi, sáu đường đối với các Ngài đều là liên trì thanh tịnh, thong dong tự tại, chỉ vì hạnh nguyện hóa độ chúng sanh mà các Ngài có lên xuống, vào ra . Bằng cứ lấy tri kiến phàm phu mà chấp chặt lời của các Ngài thì hoá ra đã bị trói còn mua dây buộc thêm lấy mình, lại còn đắc tội cùng Tổ Phật. Ở đây, trong đầu vị tăng đang cầu tìm nơi Điều ngự một câu trả lời trong khuôn khổ của pháp sanh diệt mà mục đích cũng chỉ là’tri kiến nuôi lớn tri kiến’ thì biết chừng nào giải thoát được chính cái sợi dây cột buộc của tri kiến ấy để mà tự do tự tại, nên Điều ngự đã làm ngược lại, giáng trả trực tiếp bằng chính vũ khí đối phương để mong đốt cháy, phá nát ‘túi chứa tri kiến’ cái ‘vốn liếng từ lâu góp nhặt’ mà cũng là cái nhân cột buộc chính mình. Lời đáp như lưỡi đao chém ngược, sả ngang, cắt dọc tất cả mọi trói buộc, vướng mắc, vượt lên trên đối đãi của tâm phân biệt nhị nguyên để mở lối cho vị tăng. Nhưng ở đây, ông tăng vẫn không bắt kịp.
Chúng ta hãy lắng xem mấy lời khai thị của tổ Nam Tuyền để thấy trong đây thế nào là ràng buộc và tự do, phàm phu và giải thoát.
"Khi tổ Nam Tuyền sắp tịch, thủ tọa hỏi :
* Sau khi Hoà thượng trăm tuổi thì về đâu ?
- Làm con trâu dưới núi.
Một vị tăng dưới trướng thưa :
* Con theo Hoà thượng được chăng ?
- Nếu ngươi muốn theo ta thì ngậm theo một bó cỏ."
Chỉ một câu nói ngắn gọn, bình thường nhưng lại có tác dụng mở tâm, chuyển não; nói mà ‘vô ngôn’, tuy vô phân biệt mà tự nó vẫn biện biệt rõ ràng cảnh giới trói buộc của phàm phu và tự tại, giải thoát của thánh trí. Nói mà như chẳng nói, nhưng về mặt tác dụng thì thật tích cực.
Bỡi lòng từ bi muốn cứu vớt chúng sanh ngay đây thoát khổ mà chư Tổ động môi, nhưng đôi khi trí phàm phu của chúng ta không bắt kịp được các Ngài, lại cho rằng các Ngài đại ngôn, vọng ngữ. Lời dạy của các Ngài tuông ra có lúc mãnh liệt phi thường như cơn đại hồng thủy,có lúc uy vũ như bão tố, cuồng phong,thoắt chốc đổ ập, cuốn trôi, xoá sạch tất cả những rác rưởi, đen đủi của trần cảnh, mặc cho những tiếng kêu la, trách móc huyễn ảo của thế gian ảo huyễn. Chủ đích của các Ngài không gì khác ngoài việc tác động trực tiếp vào tri thức kẻ đối diện, để họ bất giác ngoảnh đầu, thấy tánh mà tự giải thoát. Còn ngoài ra, khen chê, trách móc của nhân thế đối với các Ngài chẳng chút dính dấp.
Nghe qua lời đáp của Điều ngự Giác Hoàng, nếu không tinh mắt, không tự thoát khỏi sợi dây ràng buộc của nhơn ngã, thị phi, chúng ta sẽ trách Ngài là vọng ngữ ngay. Bằng ngược lại, bốn câu kệ khai thị vừa lìa miệng Tổ, tai chợt nghe mắt tâm chợt bừng tỏ, ta chỉ biết cuối đầu đảnh lễ, thổn thức và rơi nước mắt trước tấm lòng đại từ, đại bi của Ngài, vì chúng sanh mà bày mọi phương tiện. Câu kệ khai thị của Điều ngự ở trên chẳng khác việc chém mèo của Nam Tuyền, đốt tượng Phật của Đơn Hà v.v…
Với các Ngài, tướng mạo của ngôn từ, chữ nghĩa ,tri thức bị khai trừ, giũ bỏ, quét sạch không thương tiếc.
Ai người nói Như lai có thuyết,
Kẻ đó không thật biết Như lai,
Phải như ngựa nháng bóng roi
Thấy tai, nghe mắt, động môi chẳng lời.
Thế nên, nếu lanh mắt chúng ta sẽ trực nhận nhát búa khai thị pháp ‘phá chấp Ngã-Pháp’ của Điều ngự, và ngay trong ấy, cũng chỉ sát na tự phá trói mà thoát. Bằng ngược lại, nếu không tự giải thoát khỏi trói buộc của tri kiến, thì với tâm phân biệt cố hữu, chúng ta sẽ gán ngay cho Ngài là phỉ báng Phật Pháp, và do vô tình bỡi điều không tỏ ấy mà chúng ta phải đắc tội với các Ngài.
Bỡi vậy, nếu còn kiến chấp thì bị chính cái chấp ấy cột buộc, xâu xé trong vòng chi phối của tướng sanh diệt.
Miệng như chậu máu phun Phật, Tổ,
Răng như gươm bén đốn rừng Thiền.
Chỗ này, nếu vị tăng lanh cơ, hốt nhiên lìa kiến chấp, ngay đó nhận ra mặt mũi xưa nay của mình .
Mai kia chết xuống A tỳ ngục
Cười ngất, Nam mô Quán-thế-Âm.
Cái cười ngất như hư không, tự do, tự tại, vô phàm, vô thánh, chẳng đến đi, mà bao dung tất thảy.
"Vài Pháp sư đến gặp Thiền sư HuệHải :
* Định hỏi một câu, Thầy có vui lòng đáp chăng ?
Ngài Huệ Hải đáp:
"Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt."
Chỉ một câu đáp này, ngoảnh đầu nhìn lại, tâm chợt như hư không, bao nhiêu dây mơ, rễ má vấn-víu chằn-chịt bấy lâu tự khắc tháo tung, dứt nát, chấp tay đảnh lễ rồi thong thả ra về hưởng cuộc sống mới. Bằng không, dù trăm hỏi, ngàn lời, biện-luận, lý-giải cũng chỉ là mớ bòng-bong rối rắm, cột buộc lấy mình mà thôi, còn chơn-lý thì vẫn nghìn trùng xa thẳm.
Thí như có Thiền-sư hỏi các đệ-tử :
Bỡi vô minh tập nhiễm lâu đời, lâu kiếp nên tâm chúng sanh lúc nào cũng khởi phân biệt; do sáu căn luôn động, bắt hình, đuổi tiếng bên ngoài, tương ưng nhịp-nhàng theo giòng vọng thức luôn trôi chảy bên trong, nên các vị đệ-tử kia phải một phen lầm, theo cảnh quên mình. Chứ cũng ngay chỗ đó, đừng khởi niệm phân-biệt hai bên thì vọng tướng chẳng hiện, các tướng chẳng hiện thì dòm lại chỗ nào là chỗ trói buộc của ướt cùng chẳng ướt, và ngay cái ướt cùng chẳng ướt kia cũng tự khắc mất tiêu, ngay đó huyễn cảnh do tâm động niệm sanh tự mất, chơn lý rờ rỡ trên mi, ngay trong thực tại của dòng sống, chẳng cầu tìm đâu xa, thoắt cái, mình khám phá mình. Sát na trước, tâm vọng theo cảnh, biến hiện chập chùng, mất còn như cơn sóng, sát-na sau ngoảnh đầu, trong sáng vắng lặng như hư không, muôn pháp chảy trôi trước mắt mà chẳng dính dấp, như đàn chim muôn con, bay trong hư không mà chẳng hề lưu dấu nơi hư không. Một mình tủm tỉm cười; một câu nói rõ ràng như đùa của Tổ mà tác dụng đưa ta về chỗ thật thì lại không nhỏ chút nào.
"Một vị tăng tham hỏi Điều ngự Giác Hoàng :
Ngày xưa có một Tăng hỏi Hoà-thượng Lang-Gia :
Thể bổn nhiên thanh tịnh vì sao hốt nhiên sanh ra đất đai, sông núi ? Ý chỉ ấy như thế nào ?
Đáp: Tựa hồ thuyền chài tuông ra biển cả.
Hỏi tiếp: Ý là thế nào ?
Đáp: Ai biết nơi khói sóng xa xôi kia có chỗ đáng thương lượng (luận bàn) !"
- Một câu hỏi thâm sâu về chỗ diệu dụng của thể tánh; lời đáp của Điều ngự bằng hình ảnh thế gian thường tình mà lại xác đáng nhưng không hề trước tướng ngôn ngữ, tuyệt diệu và thâm thúy vô cùng.
Nếu vừa chợt hội, nhìn lại nơi mình, hàm dung tất cả. Đến chỗ đó thì tự khắc rõ, một núi Tu di chứa hằng sa hạt cải, ngược lại một chúng sanh bé như hạt cải cũng dung chứa không biết bao nhiêu là Tu di sơn mà vẫn không cản ngại.
- Câu hỏi tiếp của ông Tăng chứng tỏ ông chưa hội, và lời đáp có vẻ như hững hờ của Điều ngự lại chính là cú phủ đầu, hầu chỉ cho ông Tăng dòm lại mình, tự phá để giải thoát khỏi tri kiến mà ông đang cầu tìm trong vọng tưởng, để quay ngược trở về, sống với chính cái hiện tiền, cái đang là, đương niệm, để trực nhận ra mình, được thì ngay đó tất cả gồm đủ, chẳng cần hỏi han lôi thôi gì nữa, nhưng ở đây vị Tăng vẫn không tỏ, mất cơ hội.
Dưới đây là một Công án Thiền Trung hoa, cùng chỗ xuất nhập, ngược xuôi và tác dụng tương tự .
"Một vị Tăng hỏi Thiền sư Trường Sa: ‘Làm sao chuyển sông núi, đất đai trở về cái tự ky û(bổn nhiên thanh tịnh) ?’ ( Như hà chuyển đắc sơn hà, quốc độ qui tự kỷ pháp ?
Trường Sa đáp bằng bốn câu kệ :
Thùy vấn sơn hà chuyển,
Sơn hà chuyển hướng thùy ?
Viên thông vô lưỡng bạn,
Pháp tánh bổn vô qui !
Sao hỏi non sông chuyển,
Non sông chuyển đến đâu ?
Viên thông chẳng hai phía,
Gốc Pháp tánh không về.
Tỏ chỗ này thì cũng tỏ luôn câu đáp thứ hai của Điều ngự, và ngay đó tự khám phá mình và cũng tự trả lời thế nào là đại Tu di, là sơn hà, đại địa cùng gồm trong hạt cải mà chẳng ngăn ngại.
"Lại một vị Tăng hỏi Điều ngự :
- Thế nào là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tùy hình ?
Đáp: Bằng lấy sắc thấy ta,
Lấy âm thinh cầu ta,
Kẻ ấy hành tà đạo,
Chẳng thấy được Như lai.
Lại hỏi tiếp:
- Phật là gì ?
Đáp: Trấu cám dưới cối giã.
- Thế nào là ý Tổ sư tây lai ?
Đáp: Bánh vẽ.
- Đại ý Phật pháp là gì ?
Đáp: Cùng một hầm, đất không khác."
Đến chỗ cùng tột thì môi miệng, tri thức chẳng với tới. Nương phương tiện mà chợt bắt gặp thì tất cả chợt lìa,đến thân cũng chẳng còn có chỗ nương vin. Thế nên Thiền sư Tuyết Phong thể hiện chỗ này bằng một câu bất hủ: "Cùng tột càn khôn ngay trong đáy mắt, thì ở đâu có chỗ để ngồi."Mắt đã sáng, không còn bệnh thì tự rõ còn chỗ nào để đặt chân, không chỗ đặt chân mà không đâu chẳng tới.
Những gì được thể hiện qua chữ nghĩa, môi miệng, nói chung là tri kiến, cũng đều là phương tiện dẫn dắt; nương nó mà lại tự lìa nó để mở mắt thì ngay đó thảnh thơi, vô sự, bằng ngược lại cứ níu kéo, chấp trước lấy nó thì ngay đó chúng cũng chỉ là vật chướng ngại cho con đường giải thoát của mình.
Ở đây, sợi dây ràng buộc của tri kiến rất vi tế, còn vướng một mối tơ nhỏ cũng khó thoát sự trói cột của nó. Thế nên chư Tổ thường nói "Mạt vàng tuy quí nhưng rơi vào mắt lại bệnh" là ở chỗ này.
Cả bốn câu đáp của Điều ngự cùng một chỗ phá để thoát, trợ giúp ông Tăng tự lấy đi cái mạt vàng trong chính mắt mình để được sáng mà ra vào, đến đi thông suốt; chợt tỏ thì cùng Tổ đồng hội, đồng thuyền, như cùng một hầm đất chẳng khác, bằng ngược lại, chỉ còn một con đường là phải tự rèn luyện để chờ dịp lại thi sải bước, vượt đầu sào trăm trượng hòng mở mắt mà thôi.
Mắt tai còn vướng thấy nghe,
Tâm còn trói cột, đi về hai chân;
Không tâm chẳng trước lục trần,
Mắt nghe
tai thấy, không chân đi về.
Chỉ thẳng tâm người
Nói chỉ thẳng ngay tâm mà chẳng có chỗ để chỉ, bỡi tâm chẳng trong ngoài, hay ở giữa, chẳng trụ quá khứ hay vị lai, mà hiện tại tâm cũng chẳng thể nắm bắt (vô sở đắc). ‘Tâm’ ở đây tức chẳng chỉ riêng cái tâm tri kiến của vọng thức điên đảo, nhưng cũng chẳng phải phủ nhận nó, mà có nghĩa người được chỉ thẳng nương pháp phương tiện, để tức thì, ngay đó, tự phá vô minh, vượt qua chính mình, tức vượt thoát khỏi dòng vọng thức luôn biến hiện của huyễn tâm , để nhận ra, khám phá ra cái tâm bình thường tự sẵn đầy đủ của mình, cũng là chơn tâm, là bổn lai diện mục. ‘Tâm bình thường’ ở đây tức chỉ cái tâm không sạch nhơ, không phàm thánh, không thêm bớt, không nắm không buông, vô phân biệt, tự xưa vốn đã vậy, nay cũng chưa từng đổi khác . Nói ‘vựơt qua’ cũng chỉ là cách dùng từ ngữ, chứ thật chẳng có một khoảng cách rõ rệt nào từ huyễn giả đến chơn tâm; gần cũng thật gần, mà xa cũng thật xa. Nói gần, bỡi chỉ một thoắt sát na, chơn tâm hiển lộ ngay trước lằn mi, bao dung tất cả, không đâu chẳng có; mà xa thì ngàn trùng thăm thẳm, đem tâm ý cầu tìm suốt kiếp cũng khó gặp. Cũng ngay đó là vọng tâm điên đảo, tử sanh, nhân quả, biến hiện, nhưng cũng ngay đó một lần trực ngộ thì hiển lộ chơn tâm, tự nhận ra mặt mũi xưa nay của mình; chơn tâm một lần đã tỏ giống như người mù từ thuở nhỏ nay bỗng nhiên được sáng mắt, thì cái thấy sáng tỏ ấy sau đó dẫu đuổi cũng chẳng đi, trốn lánh cũng chẳng mất, mà sờ sờ ngay trước mắt, nếu không tự động niệm phân biệt, chạy theo bản ngã, sắc tướng để tự vùi lấp .
Cũng một tâm mà ngay đó sẵn đủ huyễn vọng và chơn thật, sanh tử và Niết bàn, phiền não và Bồ đề, phàm phu và Thánh trí. Cũng một tâm mà hai trạng thái khác nhau trời vực, chỉ do ở chỗ tâm mê, tự quên mình mà đeo đuổi theo sắc tướng huyễn hoặc của vô minh, và tâm ngộ, chợt tỉnh thức vượt thoát vô minh, mà nhận ra chơn tánh vốn sẵn tự có.
‘Trực chỉ nhơn tâm’ là pháp hành, lấy công phu thực hành làm nhơn để cho quả kiến tánh. Thế nên ở đây chúng tôi không đi sâu vào phần giải thích hay có thể định nghĩa một cách rốt ráo bốn chữ trên, bỡi ‘ chỉ thẳng tâm người,’ với từ ngữ, tự nó đã quá rõ nghĩa. Vì là pháp để thực hành thì cũng có nghĩa tùy thuộc vào sự dẫn dắt của Thiện tri thức đối với căn cơ từng đệ tử, cũng như tùy thuộc vào sự nỗ lực của học nhân mà tự tu tự chứng, nên có cao thấp nông sâu, còn chữ nghĩa ngôn từ có tính cách biện luận, lý giải ở đây đều vô tác dụng, chẳng thể thâm nhập.
Ở đây, chúng tôi xin cử ra một số công án Thiền, là những lời khai tâm mở trí mà người xưa đã áp dụng trong việc dạy người, để ai trong chúng ta nếu có căn duyên với Tông môn này, xem qua nhiều lần, nhật tích nguyệt lũy, như mưa lâu nhuần đất, đến một lúc nào đó, cơ duyên chín muồi, tự phá mà thoát, giũ sạch ràng buộc, tự tại an nhiên, theo chúng tôi, đó cũng là điều lợi tha, nên làm và đáng trân trọng vậy.
"Một vị tướng quân đến vấn đạo nơi Thiền sư Bạch Ẩn :
- Bạch Hoà thượng, thật sự có Thiên đường và Địa ngục không ạ?
Bạch Ẩn Hoà thượng hỏi lại :
- Ông làm gì ?
Vị tướng trả lời :
- Tôi là một Đại tướng quân.
Bạch Ẩn nhìn vị tướng, cười ha hả, rồi nói :
- Một kẻ như ông mà làm tướng quân à. Ta trông ông giống tên đồ tể thì có.
Vị tướng mặt hầm hầm, rút kiếm nói:
- Ta sẽ lấy mạng ngươi.
Ngài Bạch-Aån liền nói:
- Đó, cữa Địa ngục sắp mở ra từ chỗ này.
Vị tướng chợt nghe, vội tra gươm vào vỏ nói:
- Xin lỗi ! xin lỗi !
Ngài Bạch Ẩn nói tiếp:
- Đó, cữa Thiên đường rộng mở từ chỗ này."
Thiên đường, địa ngục chẳng ở đâu xa mà ngay trước mắt, trong thực tại của dòng sống, chẳng phải đợi ngưng tim, tắt thở mới thấy. Hạnh phúc và khổ đau, đủ và thiếu, được và mất, … đều ở trong ta, do chấp ngã, phân biệt, đối đãi mà có. Chúng sanh,vì bên trong chấp ngã mà bên ngoài sáu căn luôn chạy theo trần cảnh, tâm động niệm chợt khởi thiện, ác theo dòng thức mà có Thiên đường, địa ngục biến hiện tức thì. Thiện ác, Thiên đường, Địa ngục cũng từ một tâm sanh : " Nhứt thiết chư pháp giai tùng tâm sanh
Tâm động, hằng sa động
Thiện động, Nhơn Thiên động
Ố động, khổ đạo động,
Nhứt động, nhứt thiết động.
Tâm tịnh, Phật-độ tịnh
Truy tịnh, tịnh giả tịnh
Niệm vô, mi thượng tịnh
Nhứt tịnh, nhứt thiết tịnh.
Đối với đệ nhất nghĩa, một động niệm dù là niệm thiện hay niệm ác cũng đều rơi vào chỗ nổi trôi của sanh diệt, trói buộc của nhị nguyên, chẳng phải là chỗ tột cùng của Phật pháp. Ngược lại, chỉ trong đương niệm, một niệm vô phân biệt, mà trước niệm không sanh, sau niệm không mất, tự thể tròn đầy, sáng trong, uyên nguyên thì đó là chơn niệm, hiển hiện chơn tâm, là tâm Phật. Nói chơn tâm, cũng bỡi đối đãi vọng tâm mà nói có chơn. Nói vọng, cũng từ đối đãi một chơn mà có vọng. Vọng chơn, đối với tự thể tánh của tâm cũng là tiếng giả lập. Cùng tột tánh vọng, tánh chơn, tự thể thật tánh là không, thì chỗ nào chơn vọng. Cũng như nói mê, nói giác; thật tánh chúng sanh (cũng là Phật tánh) xưa nay đã là vậy, chưa từng mê, thì đâu cần phải nói giác. Tự tâm vọng động, ngay đó liền mê, nên cần chuyển mê vọng về tự thể bổn lai thanh tịnh mà nói giác. Không động không niệm, đương thể thanh tịnh, tự nó xưa nay là vậy, thì ai đi cầu giác, mà gì là giác ở ngay chỗ này. Bỡi tâm chúng sanh vì vô minh bao phủ mà luôn biến hiện trong mê nên phải cần có giác pháp, cũng như chuyển tâm huyễn-hoá,trôi nổi,vọng-động về chỗ tự thể sẵn có thanh tịnh uyên nguyên mà nói rằng chơn. Đến chỗ này mới thấy pháp Phật cao vời vô biên, bất khả tư nghì vậy.
Trong đây Tổ Huyền Giác đã nói thật rõ về chỗ ảo diệu của tâm " Vô minh thật tánh là Phật tánh, aỏ hoá không thân tức Pháp thân" .
Ở đây chúng ta thấy giữa thiên đường và địa ngục chẳng có một khoảng cách nào thể hiện rõ rệt trong tâm. Chỉ một niệm khởi, hoặc thiện hoặc ác, thoắt cái, tất cả các pháp biến hiện, hoán đổi vị trí cho nhau để mà ngay đó hiện cảnh thiên đường hay địa ngục như hoàn cảnh vị tướng quân ở trên.
Vì ngã chấp mà tùy thuận theo vô minh nên tâm luôn biến hiện theo dòng thức nổi trôi, sanh diệt, thoắt còn thoắt mất như làn sóng, đó là huyễn tâm, tâm vọng. Bằng ngược lại, ngã chấp không còn, hai bên dứt sạch, tâm an định, tự tánh tỏ ngộ, thì ngay đó cũng rõ được thật tánh của vô minh cũng như của tất cả các pháp, mà không rơi vào lầm. Chỗ này Bá Trượng Đại sư đã mở lối cho ông tăng phải chịu năm trăm kiếp chồn hoang được giải thoát ngay khi ngộ một câu chuyển ngữ.
"Ông già (đang trong kiếp chồn hoang) hỏi : - Bậc đại tu hành có rơi vào nhơn quả không ?
Ngài Bá Trượng đáp : Không lầm nhơn quả ."
Bốn tiếng ‘ Không lầm nhơn quả’ vừa lọt vào tai ông già, tâm phân biệt thường đoạn, sanh diệt cố hữu của ngã chấp hai bên trong ông chợt cháy tiêu, cuốn trôi không lưu dấu, ngay đó chơn tâm hiển hiện, tự tánh phô bày, mọi thứ chẳng lầm, ngay đây giải thoát.
"Thiền sư Triệu Châu hỏi một vị Tăng mới đến:
- Từng đến đây chưa ?
Tăng thưa:
- Bạch, đã từng đến.
Sư bảo :
- Vậy thì mời uống trà.
Lại hỏi một Tăng khác:
- Từng đến đây chưa ?
Tăng thưa :
- Bạch, chưa từng đến.
Sư bảo:
- Vậy thì mời uống trà.
Viện chủ ngồi cạnh thắc mắc, hỏi Sư:
- Vì sao từng đến Hoà thượng dạy uống trà, chưa từng Hòa thượng cũng dạy uống trà ?
Triệu Châu bảo :
- Uả, Viện chủ còn ngồi đó hả ? Vậy thì mời uống trà.
Vừa nghe, Viện chủ chợt tỉnh."
Bỡi nặng tâm phân biệt mà Viện chủ đã theo cảnh quên mình. Chứ nếu một người căn cơ nhạy bén, thì chỉ cần chợt nghe ngài Triệu Châu mời trà vị Tăng thứ hai thì tất cả an bài, chỉ sát na, mối tiểu nghi trong tâm tự vỡ mà tủm tỉm cười thầm. Nhưng ở đây, Viện chủ chẳng tự phá mà thoát khỏi cái vỏ bọc "phân biệt" muôn thuở này, nên phải một phen lầm, lỡ dịp. Mãi đến khi ấm ức được thốt ra, chờ một câu đáp để thoã mãn tri thức, lại được Triệu Châu độp lại bằng nhát búa bình đẳng, vô phân biệt. Cú đánh trực diện đã có tác dụng khai tâm Viện chủ. Đây là liều thuốc nhẹ tác dụng trị tiểu nghi, nên kết quả cũng chỉ là tiểu ngộ.
" Thiền sư Nam Tuyền đến thăm Trang chủ. Chủ nhân dự bị sẵn sàng để đón tiếp. Sư hỏi:
- Lão Tăng ra vào không cho ai hay, sao Trang chủ biết trước mà bày biện như thế ?
Trang chủ thưa:
- Đêm qua Thổ địa mách rằng hôm nay Hoà thượng đến thăm.
Sư bảo:
- Vương lão sư ( Nam Tuyền, họ Vương) tu hành vô lực, bị quỉ thần dòm thấy.
Thị-giả hỏi:
- Hoà-thượng là Thiện try thức, vì sao bị quỉ thần dòm thấy ?
Sư đáp:
- Trước Thổ địa có để phần cơm."
Vì sao trước Thổ địa có để phần cơm mà ngài Nam Tuyền phải lộ diện ?
Trú dạ thường thanh tịnh,
Thênh thênh chẳng đến đi,
Ngặc hai thời cơm cháo
Hầu động, quỉ thần tri.
" Một vị Tăng đến tham vấn Quốc sư Huệ Trung.
Quốc sư hỏi:
- Công việc của thầy là gì ?
Tăng bạch:
- Giảng kinh Kim Cang.
Sư hỏi:
- Hai chữ đầu tiên của kinh là gì ?
Tăng bạch:
- Như thị.
Sư hỏi tiếp:
- Là gì ?
Vị Tăng không đáp được."
Tri thức và tài biện luận của vị Tăng có thừa nên mới đảm nhậm việc giảng Kim cang kinh. Quốc sư nương sự nghiệp của vị Tăng mà khám phá. Tuy nhiên, vì chưa thể nhập trí Bát nhã Kim cang, nên vị Tăng chẳng thể đáp câu hỏi ‘là gì ? ‘ mà cũng là câu ngầm mở lối của Quốc sư. Hai chữ ‘Như thị’ vừa tự khởi, cũng như ‘là gì’ vừa lìa miệng Tổ lọt vào tai Tăng, nếu đã tỏ hay chợt tỏ, không những chữ nghĩa nối tiếp đằng sau kinh không còn, mà trăm kinh vạn quyển ngay đây cũng đều cháy tiêu, mất dấu; dưới trên, trong ngoài, sau trước còn là gì nữa, nếu không ngay đó Đang-là trong chỗ uyên nguyên?
‘Như thị’ hốt nhiên tỏ ,
Trăm kinh cũng chẳng còn;
Nương tay trăng thấy đó,
Hé mắt, trọn càn khôn.
"Lại có vị Tăng hỏi Quốc sư Huệ Trung :
- Thế nào là giải thoát ?
Sư đáp :
- Các pháp không nhiễm.
Lại hỏi :
- Làm sao đoạn dứt được ?
Sư đáp :
- Đã nói các pháp không nhiễm thì đoạn dứt cái gì."
Đã ngộ tánh các
pháp thì còn có gì, lấy gì
để buông, để nắm, huống
là có nhiễm để đoạn.
Không buông, không nắm, ngay đó
tự lìa, như cảnh trong gương,
bóng trăng dưới nước,
dấu chim bay soi trên cát, chẳng gì
dính dấp, ra vào an nhiên, tùy duyên
mà động dụng, ngay đó là
giải thoát, cần gì phải cầu
tìm, dụng tâm dụng trí cho nhọc
sức.
Tánh và thấy Tánh là đề tài của muôn thuở mà xưa nay người đời tốn không biết bao nhiêu là giấy mực đề cập đến. Tới chỗ này, người viết chẳng còn biết phải nói gì, viết gì cho khế hợp, bỡi chữ nghĩa, môi miệng trong đây chẳng chút dính dấp. Thiết nghĩ, chỉ có tự thân nổ lực, nhứt tâm chơn chánh tu hành cầu giải thoát, lại có được Thiện tri thức hướng dẫn, lấy tất cả đó làm nhơn mà cầu quả Kiến tánh.
Chúng tôi xin mượn bài thơ của một Tổ Thiền tông để kết thúc cho bài viết ‘ Vài suy nghĩ về Tông chỉ của Bồ-đề Đạt-ma.’
Hữu vật tiên Thiên, Địa
Vô hình bổn tịch liêu.
Năng vi vạn vật chủ
Bất vị tứ thời diêu.
Phát lạc vô tha vật,
Tung hoành bất thị trần.
Sơn hà cập đại địa,
Toàn thể lộ chơn thân.
Nhược nhơn đắc thử tâm,
Đại địa vô thốn thổ.
Việt dịch : Có vật trước trời đất,
Vô hình, gốc lặng lẽ.
Khéo làm chủ vạn vật,
Bốn mùa chẳng giao động.
Rõ ra chẳng vật khác,
Ngang dọc chẳng phải trần,
Sơn hà cùng đại địa,
Toàn thể bày chơn thân.
Bằng người đạt tâm này,
Đại địa không tất đất.
Sàigòn-Việt nam
Những bài pháp tháng 2-2000
Trang chính