nhulai.gif - 36.2 K

Hoà thượng Thích Minh Châu dùng từ Như Lai thiền để chỉ Thiền Nguyên thủy tức là phương pháp Thiền do đức Phật Thích Ca tìm ra và dạy cho các đệ tử của Ngài trong lúc Ngài còn tại thế. Thời kỳ nguyên thủy kéo dài đến 100 năm sau khi Phật viên tịch. Sau thời gian đó, các tổ sư các Thiền phái nổi danh đề ra những lối Thiền khác nhau và truyền lại cho các đệ tử. Nhiều người gọi Thiền của các tổ là Thiền Đại thừa. Thiền nghĩ dùng từ Thiền Phát triển, thực tế hơn và đúng với tinh thần đạo hơn. Vì Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Đại thừa cũng cùng chung một gốc mà ra, cũng cung kính thờ ĐỨC PHẬT THÍCH CA, cũng cùng dùng một phương tiện để tu tập ; phương tiện đó là THIỀN (tuy nội dung và hình thức có một số điểm khác nhau) và cuối cùng cũng cùng nhằm thực hiện cứu cánh chung là GIÁC NGỘ VÀ GIẢI THOÁT.

Như Lai Thiền đã được ghi chép trong một số Kinh nổi danh như Kinh Tứ Niệm Xứ, Nhập tức xuất tức niệm, Thân hành niệm ….. Hòa thượng Minh Châu đã thuyết giảng tại chùa Xá Lợi ngày 27-6-1982, "Như lai thiền, trong Kinh tạng Pali hay hành Thiền, một nếp sống lành mạnh, trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng".

Tuy bài giảng đã được trình bày hơn 15 năm nay và được ấn hành nhiều lần, nhưng chúng tôi coi đó là một tài liệu Phật học quý báu mà Phật tử có thể tham khảo, nên chúng tôi xin phép giới thiệu bài giảng trên. Trong bài giảng, Hòa thượng Thích Minh Châu đã trích ra những lời dạy của đức Phật mà Ngài đã dịch ra từ Kinh tạng Pali và là sản phẩm tưởng tượng của diễn giả. Vì muốn học môn Thiền phát sinh từ cội rễ, nên chúng tôi đã tìm hiểu, đã học, đã hành và đã chứng nghiệm nhiều kết quả thực tiễn tuy mức độ của chúng tôi còn thấp kém.

Ở bước đầu, mặc dù có minh sư chỉ dạy, chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn với thuật ngữ Phật học. Mục đích của chúng tôi là trình bày và thu tóm một vài điểm cơ bản của bài giảng trên với những danh từ thường dùng để cho những độc giả chưa quen thuật ngữ Phật học khỏi mất thì giờ tra tìm. Chúng tôi giữ nguyên văn những lời Phật dạy và xin phép trích ra nhiều đoạn của bài giảng.

Chúng tôi đặc biệt chú ý trên ba điểm sau đây :

    1. NHỮNG KINH NGHIỆM BẢN THÂN CỦA ĐỨC PHẬT VỀ THIỀN từ khi Ngài chưa thành đạo, đã thành đạo, trong suốt 45 năm thuyết pháp và cuối cùng khi Ngài nhập Niết bàn.
    2. SỰ KHÁM PHÁ BỐN CẤP THIỀN CỦA SẮC GIỚI VÀ BIẾN CHUYỂN NỘI TÂM CỦA NGÀI TRONG BỐN CẤP THIỀN ẤY, TỪ SƠ THIỀN ĐẾN GIÁC NGỘ.
    3. THIỀN NHƯ LAI, MỘT NẾP SỐNG LÀNH MẠNH TRONG SÁNG, một phương pháp giáo dục hướng thiện, có thể ứng dụng trong đời sống hiện tại và hướng thượng tiến tới Giác ngộ Giải thoát hoàn toàn như đức Phật.
I. NHỮNG KINH NGHIỆM BẢN THÂN CỦA ĐỨC PHẬT VỀ THIỀN

Khi đức Phật còn là Thái tử Siddhartha, động cơ chủ yếu thúc Ngài vượt thành xuất gia là câu hỏi : làm sao tìm được phương pháp Giải thoát khổ đau, sanh, già, bệnh, chết. Sau khi xuất gia, kinh nghiệm đầu tiên của Ngài là kinh nghiệm hướng về THIỀN. Ngài đến học đạo với đạo sư Alara Kalama về pháp môn Vô sở hữu xứ (1) và với đạo sư Uddaka Ramaputta về pháp môn Phi tưởng phi phi tưởng xứ (2). Hai pháp môn THIỀN NGOẠI ĐẠO này, Ngài học, Ngài hành, Ngài chứng và được hai đạo sư xác nhận là Ngài đã thật chứng. Nhưng Ngài nhận thấy hai pháp môn ấy KHÔNG ĐEM ĐẾN GIẢI THOÁT nên Ngài đã bỏ đi.

Kinh nghiệm thứ hai của đức Phật lúc chưa thành đạo và chưa hành Thiền, là Ngài đã thấy một cách đúng đắn (Chánh kiến) rằng muốn đoạn trừ tham, sân, si thì phải xả bỏ, xa lìa mọi dục vọng, mọi thèm muốn thế gian này và xả bỏ, xa lìa mọi ý niệm, mọi hành động xấu ác (ly dục, ly bất thiện pháp).

Có Chánh kiến đó vẫn chưa đủ. Trong đoạn sau, khi đề cập đến 4 cấp Thiền của sắc giới (3), ngài đã thấy rõ : muốn đoạn trừ tham, sân, si PHẢI CHỨNG ĐƯỢC TRẠNG THÁI HỶ, LẠC là trạng thái thân tâm an vui do xả bỏ dục vọng và mọi ý niệm bất thiện. Trạng thái đó, chỉ có hành Thiền mới đem lại được. Kinh nghiệm này dẫu về sau xây dựng thành ba môn học căn bản của đạo Phật : GIỚI, ĐỊNH, TUỆ (4) trong đó ĐỊNH (THIỀN ĐỊNH) chiếm vị trí rất quan trọng vì Thiền đưa hành giả đến Giác ngộ, Giải thoát.

Kinh nghiệm thứ ba của ngài là ngài tìm lối tu khác, sau khi nhận thấy hai kinh nghiệm đầu không đem lại kết quả. Ngài TU KHỔ HẠNH QUYẾT LIỆT trong sáu năm. Cuối cùng, thân ngài tiều tụy, tâm ngài suy kém, không hy vọng sẽ được Giác ngộ, ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh ép xác.

Sau khi nhận ăn điều độ và lại sức, đức Phật đến Uruvela tìm một địa điểm khả ái thuận tiện để hành Thiền. Ngài ngồi Thiền dưới gốc cây Tất bát la bây giờ gọi là cây Bồ đề với lời nguyền : "Dù cho xương khô, máu cạn, nếu không đạt đạo, ta thề không rời khỏi nơi này".

II. SỰ KHÁM PHÁ BỐN CẤP THIỀN CỦA SẮC GIỚI

1. BA VÍ DỤ

Trong lúc ngồi Thiền, ba ví dụ sau đây khởi lên, giúp đức Phật hiểu rõ phải hành Thiền như thế nào mới có kết quả.

Ví dụ thứ nhất, một người cầm dụng cụ làm lửa, lấy một khúc cây đẫm ướt đầy nhựa sống, đặt vào trong nước, rồi cọ xát khúc cây ấy với dụng cụ làm lửa. Tất nhiên, trong điều kiện đó, lửa không thể nhúm được.

Ví dụ thứ hai, vớt khúc cây trên ra khỏi nước, nhưng cây vẫn còn ướt và còn đầy nhựa sống, lửa cũng không nhúm được.

Ví dụ thứ ba, vớt khúc cây ra khỏi nước, đặt trên đất khô, rồi để cho nó khô. Nếu người cầm dụng cụ làm lửa cọ xát khúc cây khô ấy với dụng cụ làm lửa thì lửa có thể cháy lên.

Dựa theo ba ví dụ trên, Ngài thấy rằng muốn hành Thiền có kết quả, nghĩa là muốn chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác (Sự Giác ngộ chân chánh không gì bằng của các vị Bồ tát và chư Phật) thì phải thực hiện hai điều kiện tiên quyết là "ly dục, ly bất thiện pháp’ (xa lià, từ bỏ các dục vọng về thân, về nội tâm và xa lìa, từ bỏ các điều ác). Nếu xa lìa dục vọng và các pháp bất thiện chưa được, cũng nên khéo làm cho chúng nhẹ bớt đi.

2. NHỜ TRÍ NHỚ là tập trung suy nghĩ, đức Phật khám phá ra cấp Thiền thứ nhất hay là SƠ THIỀN của sắc giới. Ngài nhớ lại thưở nhỏ, nhân dịp lễ khai đầu xuân …. "Ta biết khi phụ thân ta, dòng họ Thích Ca, đang cày và ta đang ngồi dưới bóng mát cây Diêm phu đề (cây đào?). Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng (đạt) và trú (an trú). Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có Tầm, có Tứ (5) ; khi an trú như vậy ta nghĩ : "Theo con đường này có thể đưa đến giác ngộ chăng ?"….. Tiếp theo niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta : "Đây là con đường đưa đến Giác ngộ".

3. NĂM THIỀN CHI

Người tu Thiền, chứng được cấp Thiền thứ nhất hay sơ Thiền là chứng được năm tâm trạng tốt đẹp gọi là 5 Thiền chi : Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm.

TẦM là hướng tâm tới đối tượng cần quan sát ; viù dụ, người tu Thiền theo dõi hơi thở ra, vào, hướng và hơi thở cho nên tâm trở nên tỉnh táo, không mê muội, không buồn ngủ (mê muội, buồn ngủ, sách Phật gọi là hôn trầm thụy miên) ; trong khi các bản dịch cũ, người ta gọi Tầm là giác.

TỨ là dán tâm, cột tâm vào đối tượng đó, chú tâm, suy xét kỹ đối tượng đó ; nhờ vậy mà tâm không còn nghi hoặc ; trong các bản dịch cũ, người ta gọi là Tứ la Quán. Tầm và Tứ là hai hoạt động thường xuyên của tâm thức. Có Tầm và Tứ thì tâm không dao động.

HỶ là vui trong tâm; tâm vui vẻ thì không còn sân giận.

LẠC cũng là vui trong tâm, nhưng niềm vui không xao động mà các vị tu hành thường chứng đạt. Nhờ đó mà không còn hối tiếc.

NHẤT TÂM (samachi) là định tâm, tâm chuyên chú vào một điểm tức là đối tượng được lựa chọn để quan sát, tâm quân bình, bình thản, không còn bị phân tán.

Năm Thiền chi trên có chức năng đoạn trừ 5 triền cái là 5 tình trạng tâm lý bất thiện là cho tâm người tu hành không trở nên trong sáng được, không Giải thoát được. 5 Triền Cái đó là : Tham lam, Sân (giận dữ), Hôn trầm (mê muội), Trạo cứ (lăng xăng xao động) và Nghi (nghi hoặc vớ vẩn). Tầm có thể thay thế cho Hôn trầm Thụy miên, Tứ đối trị Nghi, Hỷ dập tắt Sân, Lạc thay thế cho Trạo cử, Hối tiếc và Nhất tâm đoạn trừ Tham lam.

4. BỐN CẤP THIỀN CỦA SẮC GIỚI

Bốn cấp Thiền của sắc giới là 4 giai đoạn hành Thiền chuẩn bị căn bản cho bước đột phá đưa đến Giác ngộ ; bốn giai đoạn nhân định ấy (jhàna) thường được đề cập trong các Kinh điển. Thực hành nhập định làm cho tâm trí có khả năng đạt Giác ngộ, song Giác ngộ chính là một sự kiện hiếm thấy, tùy thuộc vào nhiều nghiệp duyên thuận lợi và một nỗ lực rất kiên định hướng đến trí tuệ.

Trong đại Kinh Saccaka, Đức Phật diễn tả Kinh nghiệm hành Thiền chứng đạo của Ngài và tiến trình biến chuyển nội tâm của ngài qua 4 cấp Thiền của Sắc giới : "….Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái Hỷ Lạc do LY DỤC sanh, có Tầm, có Tứ. Như vậy, Lạc thọ khơi nên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta". Trong Thiền thứ nhất, Ngài xả bỏ mọi ý niệm bất thiện, xả bỏ mọi dục vọng thế tục, nhờ đó mà Ngài chứng được một trạng thái an vui trong thân và tâm. Ngài an trú trong trạng thái đó. Ngài rất tỉnh táo hướng tâm và chú ý và một đối tượng (đối tượng nào, ở đây ngài không nói rõ). Trạng thái an vui được tồn tại và không làm ngài xao động. Trong Thiền thứ nhất, có đủ 5 Thiền chi : Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất tâm.

Tiếp theo Đại Kinh Saccaka, "Diệt Tầm và Tứ, chứng và Trú THIỀN THỨ HAI một trạng thái Hỷ Lạc do định sanh, không Tầm, không Tứ, nội tĩnh Nhất tâm. Như vậy Lạc thọ khởi lên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta". Dù Tầm và Tứ là hai hoạt động bình thường của tâm thức, dù hướng tâm và chú tâm vào điều thiện, điều lành nhưng hai Thiền chi này làm cho tâm giao động một phần nào vì dùng Tầm và Tứ đòi hỏi một sinh hoạt mạnh mẽ của tâm ; do đó có hại cho định tâm, nên Đức Phật bỏ Tầm bỏ Tứ, để thành tựu định tâm. Do định tâm mà Ngài chứng được, hướng được tâm trạng HỶ, LẠC, NHẤT TÂM. Trạng thái này được tồn tại và ngài an trú nơi đó. Trong Thiền thứ hai chỉ còn lại Hỷ, Lạc, Nhất tâm.

Ngài thấy sự định tâm cũng chưa hòan hảo và tiếp tục gạn lọc ba Thiền chi còn lại : "Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự Lạc thọ mà các bậc thánh gọi là XẢ NIỆM LẠC TRÚ, chứng và trú THIỀN THỨ BA. Như vậy lạc thọ khởi lên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta". Trong Thiền thứ ba, Ngài xả bỏ tâm trạng Hỷ. Hỷ là tâm trạng vui, nhưng vui xao động. Nhờ bỏ hỷ, thay thế hỷ bằng xả (bỏ) mà Ngài hưởng được trạng thái xả niệm Lạc trú. Trong cấp Thiền na, chỉ còn lại Lạc và Nhất tâm.

"Xả niệm, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không Lạc, xả niệm thanh tịnh". Tuy Lạc là một cảm thọ an vui thuần túy, nhưng nó vẫn còn là một động tâm rất vi tế, nên Đức Phật xả bỏ Lạc để chứng trạng thái Nhất tâm, không khổ, không Lạc mà Ngài gọi là XẢ NIỆM THANH TỊNH.

Rồi với tâm định tĩnh trong Thiền thứ tư ấy, Đức Phật hướng tâm tuần tự đến Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.

Chứng được Túc mạng minh là nhớ lại nhiều kiếp sống quá khứ, từ trước khi thành Phật đến vô số kiếp. Ngài nhớ Ngài từng sanh ra ở đâu, dòng họ nào, có tên gì, sống được bao lâu, sau khi chết tại chỗ nào, sinh ra ở đâu ? (Như vậy là Ngài chứng được vòng sanh tử ở thế tục này).

Chứng được thiên nhãn minh là thấy được sự sống và sự chết của chúng sanh. Người này sống hạnh phúc, kẻ kia sống khổ đau đều do NGHIỆP (6) thiện hay nghiệp ác của họ trói buộc họ trong lục đạo luân hồi (Luật nhân quả về nghiệp). Với thiên nhãn, Ngài còn thấy vô số chúng sanh sống trên vô số hành tinh khác. Ngài còn thấy các pháp hợp có hình tướng hay không đều do nhân duyên tạo tác (ĐẠO LÝ DUYÊN KHỞI) (7).

Cuối cùng, Ngài chứng được lậu tận minh là trí sáng suốt đã đoạn hết mọi lậu hoặc phiền não, dứt hết mầm sanh tử. Ngài biết rằng Ngài đã GIẢI THOÁT, không trở lại vòng sanh tử nữa. Đó là tri kiến về KHỔ và TỨ THÁNH ĐẾ (8) .

Sau khi thành đạo và suốt 45 năm, Ngài thuyết pháp độ sanh và hành Thiền. Sáng Thiền, chiều Thiền, tối Thiền : canh một, Ngài đi Kinh hành (vừa đi vừa Thiền để tránh buồn ngủ) và ngồi Thiền. Canh hai, Ngài đi Kinh hành và ngồi Thiền. Canh ba, Ngài nằm nghỉ ; lúc thức dậy, Ngài đi Kinh hành và ngồi Thiền.

Đến khi nhập Niết bàn, ngài cũng Thiền : "Xuất Thiền thứ tư Ngài nhập định Thiền thứ ba, xuất Thiền thứ ba, Ngài nhập định Thiền thứ hai. Xuất Thiền thứ hai, Ngài nhập định sơ Thiền. Xuất sơ Thiền, Ngài định nhập Thiền thứ hai …. Xuất Thiền thứ tư Ngài lập tứ nhập diệt".

Ngoài ra, Ngài còn thường khuyên các Tỳ kheo khi hội hợp lại nên đàm luận về Phật pháp, hoặc giữ sự im lặng của bậc thánh (Thiền). Ngài nhắc đi nhắc lại nếp sống tối thắng của một Tỳ kheo là Thiền định và Thiền quán. Quán thân, quán thọ, quán tâm, quán Pháp (Thân không trong sạch; cảm thọ gây ra khổ ; tâm không thường còn ; tất cả các pháp, các sự vật đều là vô ngã, không có thực thể).

Và Ngài nói với Tỳ kheo Ananda :"Này Ananda, Tỳ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một vị khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác. Những vị ấy là những vị tối thượng trong Tỳ kheo của ta".

Tóm lại, muốn Hành Thiền theo Phật dạy, thì phải nhất quyết không làm mọi điều ác, thành tựu các việc lành (GIỚI). Như vậy, Tâm mới được thanh tịnh, vắng lặng (ĐỊNH) và sáng suốt, (TRÍ TUỆ mới phát sinh).

III. THIỀN NGUYÊN THỦY, MỘT NẾP SỐNG LÀNH MẠNH

Phật đã sáng tạo ra một pháp môn, dẫn đến Giác ngộ và Giải thoát rất kỳ diệu: đó là pháp môn giới, định, tuệ, trong đó định hay Thiền định chiếm một địa vị quan trọng.

Theo bài giảng của Hòa thượng Thích Minh Châu, hành Thiền đem lại 4 lợi ích : một là trừ các dục ; hai là hành Thiền có khả năng đối trị sợ hãi ; ba là hành Thiền đem lại trạng thái an vui cho hành giả ; bốn là Thiền đưa đến thành tựu trí tuệ, đưa đến Giác ngộ Giải thoát, đưa đến Niết bàn.

Theo kinh nghiệm bản thân phật tử tu tại gia, hàng ngày, chúng tôi luôn luôn tinh tấn giữ năm giới, hết mình cố gắng xa lìa hay ít nữa làm nhẹ bớt dục vọng (sắc đẹp, tiền tài, địa vị, danh vọng, quyền thế…..) và nhất định không làm điều ác, để tạo ra điều kiện thuận tiện cho hành Thiền.

Điều mà chúng tôi chứng nghiệm được là, trong khi ngồi Thiền, lấy hơi thở làm đối tượng, thân được thoải mái, cơ bắp thư giãn, hơi thở được chậm lại, vi tế hơn, tim đập nhẹ và chậm hơn lúc không Thiền. Tâm được an vui, không bị ý niệm ác xấu hay vọng tưởng làm xao động. Dần dần, Tâm trở nên thanh tịnh. Tâm được thanh tịnh rồi thì tự nhiên , trí được sáng suốt hơn, tỉnh táo hơn, nhạy bén hơn. Thiển nghĩ có hai trạng thái : khổ đau và an lành. Không khổ đau là an lành rồi. Ngồi Thiền, thân không đau, hơi thở được nhẹ nhàng là thân được an lành. Tâm không nghĩ vớ vẩn, chỉ nghĩ đến điều Thiện, việc lành hoặc không nghĩ gì cả là Tâm ở trong trạng thái an lành.

Những điều gì mình chứng nghiệm được trong tâm trong lúc thiền, sẽ dần dần phát hiện ra trong đời sống hàng ngày, trong cách suy nghĩ, trong lời nói, trong việc làm, trong trạng thái của mình. Cuộc sống của mình đối với gia đình, bạn bè, xã hội sẽ được thoải mái hơn, lành mạnh hơn, trong sáng hơn.

THUẬT NGỮ PHẬT HỌC TRONG BÀI

NHƯ LAI THIỀN TRONG KINH TẠNG PALI

Theo TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC VIỆT NAM

THÍCH MINH CHÂU – MINH CHI

THIỀN : gọi đầy đủ là Thiền na. Dịch âm từ chữ Sanskrit Dhyana. Thiền, Hán dịch nghĩa là tĩnh lự, nghĩa là tĩnh tâm để suy nghĩ, tư duy. Một từ khác có nghĩa tương tự là chỉ quán. Chỉ là ngừng tâm thức lại, không để cho nó tán loạn. Quán là thấy xét. Nhờ tâm thức định tĩnh (vào định) cho nên hành giả mới nhìn thấy sự vật như thật. Dưạ vào công phu Thiền định, để quán thấy sự vật như thật gọi là Thiền quán. Các chân lý của đạo Phật như là khổ, vô thường, vô ngã …. Cần được Phật tử nắm bắt không phải bằng suy tư khái niệm mà bằng Thiền quán, nghĩa là thấy rõ ràng bằng hình ảnh như ở trước mắt.

(1)VÔ SỞ HỮU XỨ : cõi trời thứ ba của vô sắc giới, ứng với cấp Thiền định gọi là Vô sở hữu xứ định, ở cấp Thiền này, Thiền giả thành tựu được tâm hoàn toàn thanh tịnh, quân binh.

Cùng nghĩa với VÔ SỞ ĐỊNH : Thành tựu được phép định này, hành giả trực nhân không có vật gì, hiện tượng gì tồn tại, nhờ đó, bản thân mình không bị hạn chế, bị vướng mắc bởi bất cứ vật gì, hiện tượng gì.

(2) PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG : đồng nghĩa với Phi hữu tưởng, phi vô tưởng . Từ ngữ dùng trong Đại trí độ luận (Long Thọ soạn) để chỉ loại chúng sinh đã dứt trừ hết phiền não do tâm tưởng thô lậu( thô tưởng) gây ra ở các cấp sống thấp , vì vậy mà gọi là phi hữu tưởng . Nhưng vì không dứt được phiền não vi tế do tâm tưởng vi tế nhỏ nhiệm (tế tưởng) gây ra, cho nên gọi là phi vô tưởng . Chúng sinh ở cõi phi phi tưởng vẫn ở trong vòng luân hồi sinh tử….

(3) SẮC GIỚI: (Sanskrit: Rupadathu) một trong ba cõi sống của loài người . Ở cõi trời Sắc giới này, chúng sinh đã thoát khỏi mọi lòng dục , nhưng vẫn còn xác thân; xác thân của loài trời ở đây rất đẹp và có thọ mang lâu dài .

Các cõi trời của sắc giới được phân chia, tương ứng với 4 cấp Thiền của Sắc giới : cấp sơ Thiền, nhị Thiền , tam Thiền, tứ Thiền.

Hai cõi trời kia là Dục giới và Vô sắc giới.

(4) GIỚI – ĐỊNH –TUỆ : Ba môn học căn bản của đạo Phật .

Giới( Sanskrit: Sila) : Những điều răn của Phật tử tại gia và xuất gia . Phật tử tại gia giữ 5 giới: không sát sinh, không trộm cắp , không tà dâm, không nói dối , không uống rượu hay những chất làm loạn thần . Nếu xuất gia, thì tùy theo trình độ tu học , xuất gia lâu năm hay mới xuất gia. Mới xuất gia thì có mười giới(Sa di và Sa di ni): 5 giới như trên , riêng giới thứ ba là suốt đời không dâm dục, chứ không phải không tà hạnh đối với người tại gia , và thêm 5 giới sau đây: 6. Suốt đời không trang điểm, đeo tràng hoa thêm, không xoa ướp các hương liệu thơm vào thân thể ; 7. Suốt đời không ca múa hát xướng , không cố ý xem nghe; 8. Suốt đời không nằm giường cao rộng lớn; 9. Suốt đời không ăn phi thời (ăn sau giờ ngọ và ăn vặt) ; 10. Suốt đời không tham chứa vàng bạc, của báu .

Các bậc Tỳ kheo đã xuất gia lâu năm, tối thiểu trên 10 năm thì có 250 giới. Các bạc Tỳ kheo ni(tức nữ tu sĩ) xuất gia lâu năm phải giữ 348 giới…

Giới được ví như thông phong đèn, đèn có thông phong thì ngọn đèn mới đứng yên, có giữ giới tâm mới định, không tán loạn, ánh đèn mới sáng tỏ, trí tuệ mới phát sinh và chiếu sáng.

ĐỊNH : (Sankrit : Samadhi) tư tưởng tập trung chuyên chú vào một đối tượng, giữ thân tâm vắng lạnh, nghĩ làm điều phải, điều tốt, không để tâm bị vọng niệm, vọng tưởng làm xao động, dễ nảy sinh những ý niệm và hành động xấu ác…. Có giữ giới tâm mới định, tâm định, trí tuệ mới chiếu sáng giúp cho người tu hành thấu đạt sự lý. Giới, Định, Tuệ là ba môn học căn bản của đạo Phật.

Giới có nghĩa là giữ uy nghi

Định nghĩa là tâm không loạn

Tuệ nghiã là tri giác, hiểu biết.

(Khóa hư lục – Trần Thái Tông)

Tuệ : (Sankrit : Prajna ; Pali : Panna) TUỆ là trí tuệ, trí sáng suốt nhận biết được chân tướng, bộ mặt thật của sự vật. Đạo Phật gọi sự vật là các pháp (dharma). Luật sư Aán Độ Buddhaghosa đã cung cấp một Kinh điển về trí tuệ như sau :

"Đặc điểm của trí tuệ là nhận thức các pháp đúng như chúng tồn tại. Trí tuệ có chức năng xóa bỏ mọi bóng tối của vô minh, trùm lên chân tướng của các pháp. Biểu hiện của trí tuệ là không bị vô minh che lấp. Vì rằng, người nào tập trung được tư tưởng sẽ hiểu biết, thấy rõ sự vật tồn tại đúng trong thực tế. Do đó tập trung tư tưởng, định tâm là nguyên do trực tiếp nhất của trí tuệ. Như vậy, trí tuệ không phải do đọc sách, phân tách lý lẽ mà có được. Đó là kiến thức, trí thông minh bình thường. Trí tuệ chân chính phải do định tâm mới thành tựu được.

(5) TẦM, TỨ, HỶ …. Xem định nghĩa ở phần 5 Thiền chi dưới đây.

(6) NGHIỆP (Pali : Kanma ; Sankrit : Karma) hành động, việc làm. Hành động về thân gọi là thân nghiệp. Hành động về ý gọi là ý nghiệp. Nghiệp có lành, có dữ : nghiệp thiện, nghiệp ác…. Khuyết nghiệp là một chủ khuyết rất quan trọng trong đạo Phật. Chính người tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp ác, cũng chính là người phải chịu hậu quả của nghiệp. Vì vậy mà trong Kinh có câu :" Người là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp"…. Phương ngôn Việt Nam có câu :"Gieo gió, gặt bão"…. Đạo Phật chủ trương con người làm chủ hành động của mình và cũng chịu lấy trách nhiệm về hậu quả hành động của mình.

(7) ĐẠO LÝ DUYÊN KHỞI : tư tưởng cơ bản của Phật giáo. Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới và xã hội đều hình thành và phát triển do những điều kiện nhất định mà Phật giáo gọi là nhân duyên. Mọi sự vật và hiện tượng đều là vô thường, thay đổi trong từng giây phút một, nhưng đó không phải là sự thay đổi ngẫu nhiên mà là một sự thay đổi theo quy luật duyên khởi.

Thuyết duyên khởi của đạo Phật giải thích sự tương quan, tương duyên của mọi hiện tượng tâm lý và vật lý. Theo thuyết duyên khởi, mọi hiện tượng đều không có bản thể độc lập (vô ngã), mà chỉ là sự tổng hợp của nhiều yếu tố (nhân duyên), tương quan và tương liên với nhau, luôn luôn biến động (vô thường) từ trạng thái này sang trạng thái khác. Bốn mệnh đề sau đây thâu tóm nội dung thuyết duyên khởi:

Cái này có thì cái kia có

Cái này sinh thì cái kia sinh

Cái này không thì cái kia không

Cái này diệt thì cái kia diệt

(8) TỨ DIỆU ĐẾ : Bốn chân lý cao thượng.

    1. KHỔ : Chân lý thứ nhất trong bốn chân lý. Từ Dukkha – KHỔ – ngoài nghĩa khổ thông thường, còn có thêm ý nghĩa giả tạm, không bền, vô thường. Do đó, theo quan điểm Phật giáo, vui cũng có nghĩa là khổ, bởi vì mọi niềm vui ở thế gian đều không bền, chóng chán, chóng tàn. Khi niềm vui mất đi thì đó là hoại khổ. Mọi sự vật đều vô thường cho nên Phật giáo không chấp ngã pháp thường còn.

    2. Tâm niệm ở nơi con người không bao giờ đứng yên một chỗ, chẳng khác gì một dòng chảy liên tục, niệm niệm sinh diệt, tâm niệm khác lại hiện lên. Chính trạng thái niệm niệm sinh diệt là khổ, gọi là hành khổ. Cái khổ này, phải là bậc có trí mới thấm thía cảm thụ. Vì tất cả các sự vật đều vô ngã cho nên Phật giáo không chấp ngã pháp chắc thật.

      Con người bình thường chỉ cảm thấy nỗi khổ hiện tiền gọi là khổ. KHỔ như là đau, già, chết, cầu mong không được, phải gần người mình ghét, phải xa người mình thương …..

    3. KHỔ TẬP : Nguyên nhân đem lại đau khổ. Trong những nguyên nhân đó, chủ yếu là tham ái.
    4. KHỔ DIỆT : Sự tiêu diệt khổ đau là an lành khi nguyên nhân khổ đau (vô minh và ái dục) tiêu diệt. Sự an lành có thể thực hiện ngay ở đây và bây giờ. Đau khổ hết tức Niết bàn.
    5. CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN KHỔ DIỆT : là sự tu dưỡng theo Giới-Định-Tuệ. Ba điều học này được giải rộng trong con đường Chánh gồm 8 ngành (Bát Chính đạo) : Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Source: Tập Văn Thành Đạo (Thiền Viện VẠN HẠNH)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính