CHÙA CHIỀN

B. Diễm Khanh
Chùa chiền tiếng Hán Việt gọi là "tự viện", là nơi an trí tượng Phật và chỗ cư trú tu hành đạo Phật của các Tăng Ni. Tự viện còn có các tên gọi khác là tự sát, tăng tự, tinh xá, đạo tràng, Phật sát, Phạm sát, lan nhã, tùng lâm, chiên đàn lâm, đàn lâm, nữu viên, phù đồ, tự tháp, kim sát, bửu sát, tịnh sát, cổ sát, thiền sát, đại tùng lâm, danh sát, cự sát, thiền lâm, thiền cát v.v…. Quyển 39 sách Châu Lâm lại còn gọi ngôi chùa là tịnh trú xá, pháp đồng xá, xuất thế gian xá, kim cương tịnh sát, tịch diệt đạo tràng, thanh tịnh vô cự viên, viễn ly ác xứ, thân cận thiện xứ v.v…

Tiếng Phạn có nghĩa tương đương với tự viện là vìhàra và samghàràma. Vihàra dịch theo âm là tì-ha-la, dịch theo ý là trụ xứ, du hành xứ, samghàràma dịch theo âm là Tăng già lam, dịch theo ý là chúng viên, nhưng nói chung cả hai từ nầy đều có thể dịch là "Tinh xá", ý chỉ cư xá của người tu hành tinh luyện.

Lại từ "lan nhã" là tiếng gọi tắt của "a lan nhã", cũng còn gọi là "a luyện nhã" là dịch theo âm của tiếng Phạn aranya. Nếu dịch theo ý là "vô tránh, không nhàn xứ", ý chỉ nơi xa cách xóm làng, thích hợp chuyện tu hành. Còn tự viện được gọi là "sát" là do người ta dịch trại từ Phạn ngữ laksatà, có nghĩa là cây phướn, do trước chánh điện các chùa đều có dựng một cây cột phướng.

Ở Aán Độ xưa kia, ngôi chùa sớm nhất là tinh xá Trúc Lâm ở Vương Xá thành khi Phật còn tại thế, cùng tinh xá Kỳ Viên ở Xá Vệ thành và một số tinh xá khác nữa, nhưng đáng tiếc là ngày nay không còn mấy nơi được bảo tồn hoàn chỉnh. Do di chỉ các tự viện còn lại mà chúng ta được biết đa phần các tinh xá đều thiết trí điện Phật hình vuông ở giữa, chung quanh sắp xếp các Tăng phòng. Tại chính diện của chính điện đặt bệ thờ tượng Phất, chất liệu kiến trúc bằng đá, gạch hoặc gỗ.

Còn ở Trung Quốc khi xưa thì theo quyển thượng sách "Đại Tống Tăng Sử Lược" từ "Tự" dùng để chỉ "Hồng Lô tự" là nơi mà triều đình lập ra để tiếp đón tân khách bốn phương như các Tăng sĩ Tây Vực đến Đông Độ phần nhiều trước tiên tạm ngụ tại "Hồng Lô tự" như một quán dịch, sau đó mới dời đi nơi khác. Do đó mà người ta mới gọi nơi cư trú của Tăng Ni về sau là "Tự".

Còn từ "Viện" nguyên chỉ cơ sở kiến trúc có tường bao quanh , hoặc có các hành lang bao quanh, hoặc chỉ các quan thự. Đến đời Đường, nhân hoàng đế ban sắc chỉ xây dựng viện phiên dịch kinh Đại Từ Aân mà từ "Viện" chỉ cơ sở kiến trúc Phật giáo ra đời. Đến thời mạt Đường, chùa Phật được gọi là "Viện" rất nhiều, nhất là đến đời Tống, các chùa to lớn do triều đình xây dựng phần nhiều cũng gọi là "Viện".

Chùa Phật đầu tiên ở Trung Quốc là Bạch Mã Tự có từ khoảng niên hiệu Vĩnh Bình đời Đông Hán (58-75), tuy nhiên chuyện đó có thật hay không hiện nay chẳng thể nào định luận được ! Theo truyện Khương Tăng Hội chép ở quyển 13 sách Tam Tạng Ký tập thì vào năm thứ 10 đời Tôn Ngô Xích Ô (247) thì Ngô Tôn Quyền có cất chùa Kiến Sơ cho Khương Tăng Hội và chùa này có thể tin được là chùa đầu tiên 73 Trung Quốc. Về sau thì lần lượt ở Vũ Xương có chuà Thiên Lạc, Tuệ Bảo, ở Kim Lăng có chùa Bảo Ninh, Tô Châu có chùa Thông Huyền, Dương Châu có chùa Hóa Thành, Tứ Minh có chùa Đức Nhuận …..

Từ Trung diệp nhà Đường cho đến Ngũ Đại, Thiền tông xương thịnh hẳn lên, và cho đến đời Tống thì các chùa Giáo tông (tức 12 tông còn lại ngoài Thiền Tông) đa phần đã cải biến thành Thiền tự. Từ đó về sau hầu như người ta đương nhiên dùng từ Thiền tự hoặc Thiền viện để chỉ ngôi chùa, vô hình dung quên hẳn từ Tự viện. Lại nữa Thiền Tông còn dùng từ Tùng Lâm, Thiền lâm hoặc Thiền các để chỉ tự viện . Sở dĩ là dùng chữ Lâm để chỉ ngôi chùa là có ý nói chúng Tăng tập hợp , sống hòa hợp trong quy luật để tu hành như sự tề chỉnh của rừng vậy .

Trong chúng tùng lâm nếu sư gia y theo pháp hệ mà truyền pháp cho đệ tử tiếp nối làm trụ trì thì gọi là " Pháp môn tùng lâm " , còn gọi là " Tử tôn tùng lâm ", ý nói ngôi chùa do đệ tử thay thầy làm trụ trì . Còn ngược lại , nếu chiêu tập cao Tăng trong thiên hạ để thay thế làm trụ trì thì gọi là " Thập phương tùng lâm", hoặc " Thập phương sát".

Việc phân loại và gọi tên tự viện cũng có nhiều cách. Thứ nhất do nguồn thiết lập , như do quan phủ kiến lập thì gọi là " quan tự", còn do tư nhân dinh tạo thì gọi là" Tư tự ". Thứ hai do thành phần cư trú tu hành, như do Tăng thì gọi là " Tăng tự", còn do Ni thì gọi là "Ni tự" , nhưng tập quán thường hay gọi là "Ni viện".

Về sau, các tự viện ngoài tên gọi còn gọi phụ thuộc vào ngọn núi mà ngôi chùa tọa lạc , vì buổi ban đàu tự viện hay kiến lập trên núi . Thường thì người ta gọi tên chùa kèm theo cả tên núi … Nếu chùa chỉ xây dựng tại đồng bằng thôi thì người ta cũng cố kêu kèm theo tên ngọn núi nào đó trong vùng .

Người ta cũng gọi tên tự viện theo niên hiệu nhà vua như chùa Cảnh Minh được xây dựng vào năm thứ tư hiệu Cảnh Minh Uyên Vũ đời Bắc Ngụy, (503), hay chùa Chính Thỉ được xây dựng năm thứ tư niên hiệu Chính Thỉ(507) hoặc chùa Khai Nguyên xây dựng trong niên hiệu Khai Nguyên của Đường Minh Hoàng . tên chùa cũng còn do ý nghĩa các sự kiện đặc biệt xảy ra khi xây chùa như chùa Đại Vân được xây dựng vào năm Thiên Thụ nguyên niên (690), khi ấy Tắc Thiên Võ Hậu ban bố kinh Đại Vân khắp thiên hạ, đồng thời hạ lịnh các châu quận trong toàn quốc phải kiến tạo các chùa Đại Vân . Người ta cũng gọi tên chùa theo tên kinh, tên Phật , tên Bồ tát, tên Thiên Bộ , tên tổng phái , tên Tổ sư như chùa Pháp Hoa Kinh, chùa A Di Đà, chùa Quan Aâm , chùa Thiên Vương, chùa Thiên Thai , chùa Lâm Tế. Hoặc gọi tên chùa theo tên người, tên đất , như chùa Lư Sơn, chùa Tuệ Viễn. Hoặc theo duyên khởi như chùa Bạch Mã, hoặc gọi tên chùa theo giáo nghĩa như chùa Linh Sơn , chùa Cực Lạc, chùa Nhất Thừa.

Quan hệ giữa chùa chánh và các chùa phụ cùng một hệ phái rất mật thiết. Tự viện thừa truyền căn bổn pháp mạch của Tổ Sư hay gọi là" Bổn tự" hay" Tổ đình" . Chùa của các thuộc hạ cùng môn phái gọi là "Mạt tự" hay "Mạt sơn". Trong một vùng phụ cận nơi chùa chánh tọa lạc , các chùa nhhỏ cùng môn phái gọi là "Tử viện","Chi viện ","Tự trung","Tự nội","Tháp đầu". Tháp đầu nguyên chỉ mộ tháp thờ Tổ sư và thường ở mộ tháp này người ta xây một chùa nhỏ để thờ phượng Tổ sư, vì thế ngôi chùa nhỏ này gọi là"Tháp đầu". Chùa nhỏ cùng môn phái thiết lập nơi xa nhưng không đặt ra chức trụ trì thì gọi là"Thông phường" ,"Thông tự","Chi phường","Kiến đái sởi","Quải sở".

Tùy duyên khởi và cấu trúc lớn nhỏ của chùa mà phân ra thứ bậc gọi là"Tự cách". Tự cách ở Aán Độ không rõ. Buổi ban sơ Phật giáo Đông độ du nhập Trung Hoa cũng không có tự cách , nhưng dần dà về sau chùa chiền thạnh hành nên có thứ bậc "Đại sát"và "Tiểu sát". Trong bài tự Già Lam Ký ở Lạc Dương có ghi"Đại Trung và Tiểu Già Lam". Lại quyển 42 sách Phật Tổ Thống Ky ûcũng có ghi "Thượng ,Trung và hạ tự". Đời nhà Đường có những chùa quan trọng được nhà vua ban tứ bút tích trên bảng hiệu để phân biệt với các chùa thông thường . Đời Tống do Thiền tông hưng thịnh nên đặt ra chế độ "Ngũ sơn thập sát" để phân biệt thứ bậc . Về sau Giáo viện (tức các tự viện của Giáo tông là các tông ngoài Thiền tông như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Tịnh Độ v.v…"cũng thiết lập chế độ"Ngũ sơn , thập sát như Thiền viện". Vua Hồng Võ nhà Minh từng phân tự viện trong thiên hạ ra làm ba là"Thiền tự","Giảng tự","Giáo tự".Ngoài ra trong khoảng niên hiệu Vạn lịch nhà Minh , trong bài chí sách Kim Lăng Phạn Sát có phân chia các chùa ở Kim Lăng ra mấy bậc là "Đại Sát","Thứ đại sát","Trung sát", và "Tiểu sát".

Phàm đất đai của nhà chùa do đàn việt hỉ cúng để duy trì sinh hoạt của tự viện và bổ sung lương thực, gạo thóc cho Tăng Ni ở tu học gọi là "Tự lãnh". Chế độ tự lãnh này khởi nguyên từ Aán Độ, là một trong Tam Bảo vật. Vì tuy người xuất gia tài sản chỉ có "Tam y, nhất bát" thanh tịnh tự hoạt, nhưng những của thường trụ cho đại chúng như ruộng vườn, rừng rẫy thì không bị đức Phật ngăn cấm. Ngay hồi đức Phật còn tại thế cũng được các trưởng giả cúng dường tinh xá Trúc Lâm, tinh xá Kỳ Viện để hộ trì Tăng chúng thân tâm an ổn để tinh cần tu học.

Những công văn, thư tín và giấy chứng nhận do nhà chùa phát ra gọi là tự điệp. Tự điệp chỉ có giá trị khi nào được đóng con dấu riêng của chùa gọi là "Tự ấn". Con dấu này chỉ được đóng vào những giấy tờ cho việc công, dù Hòa thượng Trụ trì cũng không được dùng cho riêng của mình.

Và sau cùng chúng ta không thể không nói đến cái chết ở tự viện. Theo"Bách Trượng thanh quy" thì ở mỗi tự viện đều thiếp lập Niết bàn đường để an trí những Tăng nhân đau nặng sắp qua đời. Sau khi một Tăng sĩ thiên hóa, quan tài được chôn ở "Thác lâm" tức bãi tha ma của chùa. Tùy theođịa vị Tăng sĩ cao thấp trong chùa mà chế độ mộ phần cũng có khác nhau. Sách Tứ phần luật của Đạo Tuyên có ghi : "Các Sư trong Cao Tăng truyện đa phần được chôn trong chùa". Trong kinh, luật cũng có nói đến điều này : "Các Tỷ kheo đức vọng thì phải được xây tháp nơi thanh vắng, không được xây gần đường đi nhiều người qua lại". Lại luật cho rằng thây tứ đại là bất tịnh nên dù ở cương vị nào cũng không được chôn tại điện Phật.

Ngày nay, trong thực tế chùa miếu được gọi bằng tiếng Hán Việt phổ thông nhất là "Tự", "Quán", "Am", "Viện" mà thế tục thường có quan niệm chỗ ở tu hành của Tăng chúng là "Tự", nơi cư trú của đạo sĩ là "Quán", chỗ ở tu hành của Ni chúng là "Am", nơi cư trú tu lập của nữ đạo sĩ tức đạo cô là "Viện". Thật ra chữ "Quán" trong một số trường hợp hiếm hoi cũng chỉ ngôi chùa, như ở tỉnh Đồng Nai, có một ngôi chùa được vua ban mỹ hiệu là "Sắc Tứ Hộ Quốc Quán" nghĩa là "Ngôi chùa được vua ban sắc là Hộ Quốc". Tiếc thay bảng hiệu chùa lại đề chữ Hán là "Sắc Tứ Hộ Quốc Quan Tự" và chữ Việt là " Chùa Sắc Tứ Hộ Quốc Quan", thừa chữ Tự mà phiên âm sai chữ Quán thành Quan, phần chữ Việt dư chữ Quan…..

Chữ "Am" thật ra không phải chỉ có nghĩa duy nhất là nơi cư trú tu học của Ni cô mà cũng chỉ cả nơi cư trú tu hành của Tăng chúng như sách Thiền Uyển Tập Anh viết : "An Lãng Cao Dã Sơn, Phù Môn am, Trí Thiền sư", nghĩa là : Thiền sư Trí ở am Phù Môn, núiCao dã Xứ An Lãng", hay "Vũ Ninh Châu, Vương Trì am Tịnh lực Thiền sư", nghĩa là Thiền sư Tịnh Lực ở am Vương Trì, Châu Vũ Ninh, hoặc "Chí Linh Sơn, Bình Dương Am, Bản Tịnh Thiền sư", nghĩa là thiền sư Bản Tịnh ở am Bình Dương, núi Chí Linh. Còn chữ "Viện" cũng không phải duy nhất là nơi cư trú tu hành của Đạo cô mà cả Ni cô và Tăng chúng như sách Cảng Đức Truyền Đăng Lục có chỗ chép : "Triệu Châu Tùng Thẩm Thiền sư, Quan Aâm viện", nghĩa là : "Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm ở viện Quan Aâm", hay trong sách "Thiền Uyển Tập Anh" có chép : "Tiên Du Phù Đổng hương, Hương Hải viện, N sư Diệu Nhân", nghĩa là :"Ni sư Diệu Nhân ở viện Hương Hải, làng Phù Đổng huyện Tiên Du.

Nghĩ cho cùng, ngày nay trong hoàn cảnh cuộc sống thế giới đầy cập rập, khó có ai an nhiên tu tập và truyền pháp trong rừng sâu, hoang vắng như xưa kia mà cần phải có ngôi chùa. Nhưng chùa chiền dù được gọi dưới bất cứ tên gì, bằng bất cứ tiếng nước nào, bề thế có ra sao đi nữa thì cũng chỉ là phương tiện cơ sở giúp Tăng Ni cư trú an ổn tu hành, tín đồ tới lui lễ Phật bái Sư.

Nếu không nhận ra ngôi chùa "Tự tâm, thấy được ông "Phật Tự Kỷ" mà chạy vạy đua đòi làm chùa thật cao, đúc tượng Phật thật lớn, mà quên đi cốt lõi giáo lý đạo Phật ta là từ bi hỉ xả, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn, thì dù cho có kiến lập được ngôi Lôi Aâm tự thứ hai đi nữa, chẳng qua cũng chỉ là hướng ngoại cầu huyền, áp lương vi tiện mà thôi !

Source: Tập Văn Thành Đạo (Thiền Viện Vạn Hạnh)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính