baotich.jpg - 57.3 K

 



Tu 6 pháp ba-la-mật theo kinh Bát Nhã hoàn toàn quán chiếu Không. Nhưng kinh Bảo Tích chủ yếu lấy phần Bát Nhã hay trí tuệ là chính ; vì tu 5 pháp ba-la-mật : bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, mà không có bát-nhã ba-la-mật thì 5 pháp kia có thể biến giải thoát thành ràng buộc, biến công đức thành tội lỗi. Có thể nói chưa đạt bát-nhã ba-la-mật, chưa thể hành 5 pháp trước được.

Kinh Bảo Tích dạy nếu chưa đạt bát-nhã, muốn hành Bồ Tát đạo, chúng ta phải nương theo sự chỉ dạy của Phật hay của Bồ tát đệ bát địa hoặc nương thiện tri thức đã chứng bát-nhã ba-la-mật trở lên ; vì các Ngài mới có tầm nhìn chính xác, mới chỉ đạo đúng. Chúng ta không tự làm được vì không thấy ba đời nhân quả, nên giúp người đôi khi lại thành hại người.

Hai phần cuối cùng của 6 pháp ba-la-mật là thiền định và trí tuệ được coi như then chốt của đạo Phật. Có thiền định và trí tuệ thì 4 pháp còn lại được thực hiện tùy duyên, không quan trọng.

Định và huệ là chính. Phật dạy có huệ thì mới có định và giới, vì không có huệ mà giữ giới và tu định, dễ trở thành giới cấm thủ và lạc vào tà định. Tuy nhiên, không có giới và định, cũng khó có huệ. Chúng ta tu giới và định, phải nương vào người có trí tuệ. Người chưa đắc huệ dạy chúng ta thành củi mục. Sở dĩ cần có trí tuệ vì giới có khai, giá, trì, phạm và áp dụng cho từng người, từng trường hợp khác nhau. Vì vậy, có trường hợp giữ giới trở thành phá giới, ví dụ phá giới của Thanh văn lại được Bồ tát coi là giữ giới. Đức Phật có trí tuệ, Ngài chế giới để dạy dỗ ngăn cấm người nào, là điều chúng ta phải hiểu rõ. Phật dạy rằng người phạm giới ví như cây dừa bị chặt ngọn, không dùng được nữa. Ngài nói như vậy với người sắp thanh tịnh để cấm ngăn, thức tỉnh họ và họ sợ, không dám phạm. Nhưng đối với người đã phạm tội rồi, thì nói với họ điều đó càng làm cho họ liều mạng, làm bậy thêm nữa, tăng thêm tội cho họ. Giữ giới có trí tuệ thì tùy trường hợp mà giải quyết. Không có huệ, giới không được lợi ích, lại trở thành hại.

Định có trí tuệ cũng khác. Trong định, phần căn bản là ngoại đạo và chúng ta cũng tu tứ thiền. Xưa kia, Phật tu với Kalama, ông này đã đắc tứ thiền nên truyền cho Phật là người có trí tuệ, Ngài cũng đắc ngay. Còn người chưa đắc thiền chỉ dạy theo công thức, nên lạc đạo, thành ám chứng thiền sư nhập diệt tận định, 500 chiếc xe chạy ngang cũng không hay biết. Định theo cách này có lợi là không phát sanh phiền não, nhưng trí tuệ cũng theo đó tiêu mất. Trong kinh Pháp Hoa, 4 vị trưởng lão than khóc với Phật rằng những người còn phiền não mà phát tâm Bồ đề, tu đắc đạo. Còn họ đã đắc La hán, vào diệt tận định, nhưng không phát Bồ đề tâm được. Nhập định theo ngoại đạo, ác không biết thì thiện cũng không biết, trở thành người vô dụng, không biết gì cả. Như vậy, ngoại đạo và Phật giáo đều tu định, nhưng khác nhau ở kết quả một bên thành vô dụng, một bên được trí tuệ.

Khởi đầu, bị nghiệp chướng phiền não trần lao quấy rầy, muốn cắt nó, chúng ta phải tu định. Không dẹp nó, chúng ta không thể phát sanh trí tuệ, nó chỉ cho chúng ta nhận thức phiền não. Ví dụ tánh tôi nóng nảy thì tất cả suy nghĩ của tôi thành phiền não. Thực tế, chúng ta thấy người thông minh, tốt, nhưng vì nóng, nên thường làm những điều hại cho bản thân họ và hại cho người.

Đầu tiên, chúng ta tu Thiền không cho tánh nóng bộc phát, không cho nhận thức theo phiền não phát sinh, bằng cách không đối tác với mọi sự vật bên ngoài. Thiền giúp chúng ta ở giai đoạn một là được bình tĩnh, để đi sâu thêm ; không phải đến đây để thành diệt tận định. Tôi tâm đắc điều Phật dạy rằng đến đỉnh cao của tứ thiền là bắt đầu ngã rẽ. Đến chỗ vừa cắt phiền não, đoạn được kiến hoặc và tư hoặc xong, đắc La hán, nếu chúng ta bước vào được Ngũ tịnh cư thiên là Thiền của Phật đạo. Nhưng ngoại đạo thì khác, đến đây, họ không vào được Ngũ tịnh cư thiên, mà lọt vào Tứ không thiên, nhập diệt tận định, không biết gì.

Ở đây chúng ta không nói đến 25 phương tiện để vào Thiền theo Ngài Thiên Thai. Chỉ nói sơ vài nét cần phải chuẩn bị khi tu Thiền. Trước nhất, cơ thể phải có sức chịu đựng để luyện tập thiền quán, nếu không chỉ luống công vô ích. Tuy nhiên, luyện được cơ thể cũng chưa đủ, cần điều chỉnh ba việc ăn, ở, ngủ để cơ thể chúng ta không bị vướng mắc với nó, mới vào Thiền được. Để chọn chỗ ở có không khí trong lành, Thiền sư thường vào động đá vì trong đó ấm và mát dù bên ngoài trời lạnh và nóng. Chuẩn bị hang động vừa đủ ở có thể che nắng mưa để tu. Khi có chỗ ở cho thân tứ đại được bình yên, ngồi thiền,chúng ta từ từ rời bỏ thế giới bên ngoài, cũng không bận tâm đến hang động và thân tứ đại cũng không chi phối được, chúng ta chứng ly sanh hỷ lạc.

Điều hòa được những thứ này, chúng ta cũng không phải đối phó với nóng lạnh, đói khát. Thật vậy, cơ thể đã được điều chỉnh, vấn đề ăn uống không cần nữa, Thiền sư không uống nước nhiều, vì dễ hại thận và bị cảm. Tuy không uống nước nhiều, nhưng không khát. Việc ăn cũng được hạn chế và cơ thể tiêu hóa được lượng thực phẩm vừa đủ. Vì vậy, hành thiền, ngồi yên một tuần, không ăn uống, không đi vệ sinh, không tắm rửa, nhưng không hôi dơ, không mệt mỏi.

Phải khẳng định rằng người có nhiều căn lành từ đời trước mới tu được pháp này, vì khi mang thân tứ đại, chúng ta khó thoát khỏi sự chi phối của nó. Điển hình như Ngài Xá Lợi Phất đã tu 60 tiểu kiếp trước, chỉ gặp Mã Thắng Tỳ kheo, chưa nói lời nào, mà Ngài đã đắc sơ thiền, được ly sanh hỷ lạc. Không được pháp tối thiểu này, tu cùng kiếp cũng vậy.

Nhưng phải biết chỉ có Phật, Bồ tát, thánh Tăng mới có khả năng dạy người khác đắc định. Người có căn lành gặp Thiền sư khai ngộ bằng lời nói rất đơn giản, không cần học nhiều mà vào định được. Vì tâm sáng của Thiền sư tác động vào căn lành, ảnh hưởng cho tâm thiền sinh sáng theo và phát tâm Bồ đề.

Hành thiền, bằng mọi cách phải đạt cho được trạng thái thấp nhất là ly sanh hỷ lạc, nếu không kể như tuyệt phần. Còn tệ hơn nữa, lo làm hang động cho đẹp, để thu hút người cúng dường.

Đắc định, đạt ly sanh hỷ lạc là cửa ngõ để chúng ta vào đạo. Dù hoàn cảnh thế nào, cũng không bận tâm, tâm luôn an vui. Muốn như vậy, phải loại bỏ danh lợi, tự khắc phục ham muốn, đòi hỏi của mình. Làm sao thoát khỏi cự chi phối của xã hội, xã hội không làm phiền chúng ta, để lòng chúng ta an ổn mặc dù cuộc sống còn nghèo. Người giàu có, quyền thế đâu có được yên tâm, họ thường nhờ tôi làm cho họ an lành. Trên bước đường tu, ý thức sâu sắc rằng quyền thế, tiền bạc không làm cho chúng ta yên, chỉ từ chối danh lợi là được yên ổn tức khắc. Sắp xếp cuộc sống nhẹ nhàng, thiểu dục tri túc, đòi hỏi của bản thân càng ít càng đỡ lệ thuộc là pháp tu của chúng ta.

Bước thứ hai, rời bỏ cuộc đời, tâm mới định được. Trụ định để giải thoát, vì cuộc đời qua đau khổ, chúng ta lao vào, chịu sao nổi. Chúng ta dồn tâm trí cho việc tu định và ở trong định, tâm cũng phải an vui. Đạt được trạng thái định sanh hỷ lạc, Tổ Thiên Thai nói rằng "Thùy tri đại đạo lạc vô cương", đó là nguồn vui vô tận giữa Ngài và hang động núi rừng, đại tự nhiên hòa thành một.

Bước thứ ba đạt được ly hỷ diệu lạc, có nguồn vui sâu kín trong lòng ; diễn biến của tâm khó diễn tả được.

Cuối cùng là xả niệm thanh tịnh, niềm vui âm thầm cũng không nhớ đến. Đó là quy trình vào thiền định. Đến đây, nếu lạc Tứ không, rớt vô diệt tận định của ngoại đạo, trở thành than nguội củi mục.

Nhưng nếu đạt xả niệm thanh tịnh rồi, bước qua Ngũ tịnh cư thiên của Phật, Bồ tát ở, thì chúng ta không phải không biết gì như gỗ đá. Chúng ta vẫn cảm nhận được hiện hữu của ta, nhưng cái Ta này không còn bị phiền não quấy rầy, là cái Ta giải thoát.

Qua Không vô biên xứ thiên, ta đứng ở bãi đất trống là ta có căn lành, có nhân duyên với Phật pháp và được Phật trao cho diệu pháp. Bấy giờ, ta vẫn sống trên cuộc đời này, nhưng không có phiền não, không ai có thể làm phiền ta, là đạt được Vô phiền thiên.

Kế tiếp, chúng ta được Vô nhiệt thiên, lòng không còn buồn phiền khó chịu, hoàn toàn giải thoát là loại hình hai của Ngũ tịnh cư thiên. Có cái Ta, nhưng không còn vấn đề, nhìn đời chính xác hơn, bước qua giai đoạn ba gọi là Thiện kiến thiên. Nghĩa là thấy rõ ba đời nhân quả, diễn biến của ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên. Chưa đắc đạo, cuộc đời xấu với ta. Đắc đạo thì cũng cuộc đời này, mà nó rất đẹp, giống như vinh quy bái tổ, cái gì cũng tốt, gọi là Thiền hiện thiên. Trong Thiền thường ví dụ chưa tu thấy núi là núi, sông là sông, tức núi sông, nghĩa là những trở ngại, khó khăn biến thành phương tiện hành đạo của Bồ tát.

Cuối cùng đến Sắc cứu cánh là cùng tột vật chất, không gì mà Thiền sư không hiểu. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả là nhập pháp giới thì nhứt thân phục hiện sắc trần thân…. Trên bước đường tu đạt đến trình độ tu chứng này, mọi việc đều do trí tuệ chỉ đạo, vẽ ra bức tranh tương lai đời này và vô số kiếp đời sau của Bồ tát đều hoàn toàn thánh thiện, lợi ích cho người. Khác với vô minh chỉ đạo ta khôn, thiên hạ dại, nhưng càng đi xa, ta càng lún vào bùn sâu tội lỗi. Trí tuệ hay minh của Phật, Bồ tát chỉ đạo thì càng đi xa, chúng ta càng tiến đến chân, thiện, mỹ.



bullets08.gif - 0.2 KNhững bài pháp tháng 2-2000
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính