ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
TRONG THI CA NGUYỄN KHUYẾN

Nguyên Định

Nguyễn Khuyến (1835-1909) là một trong số những gương mặt thơ tiêu biểu nhất của Văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX. Ở một chừng mực nào đấy, họ Nguyễn được xem là nhà thơ của Hoa Cúc, nhà thơ của nông thôn miền Bắc nước ta…. Do vậy, trong thi ca của ông, hình ảnh ngôi chùa Phật, âm thanh quen thuộc của tiếng chuông chùa cùng một số quan hệ với cảnh chùa chiền đã được tái hiện là điều thật dễ hiểu.

Có thể ghi nhận ảnh hưởng của Phật giáo trong tác phẩm của Tam nguyên Yên Đổ qua mấy điểm chính sau đây :

1. NỤ CƯỜI DÍ DỎM

Sách Việt Nam Văn Học Sử Yếu của giáo sư Dương Quảng Hàm, chú trọng vào khía cạnh cười cợt, trào lộng trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nên đã sắp ông vào nhóm "Khuynh hướng về trào phúng" (Sđđ, Chương thứ 20: Các nhà viết văn Nôm về thế kỷ XIX. Bản in 1968, s, tr.392-399). Đối với Phật giáo, tính chất trào lộng ấy được thể hiện nơi bài Vịnh Sư (thơ Nôm) :

Đầu trọc lốc bình vôi

Nhảy tót lên chùa ngồi

Y a kinh một bộ

Lóc cóc mõ ba hồi

Cơm chẳng cần cá thịt

Aên rặt oản chuối xôi

Không biết câu tình dục

Đành chịu tiếng bồ côi

(Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nhà XB Văn Học, H, 1979, tr 154-155)

Bài thơ như một phác thảo về bức hí họa. Hình ảnh nhà sư qua con mắt trào lộng, nghịch ngợm của Nguyễn Khuyến mang một số nét tức cười (hình dạng, dáng đi, giọng đọc kinh, gõ mõ …) nhưng vẫn là một vị sư trai giới đàng hoàng, không đến nỗi mang đậm tính chất tục lụy như ông sư trong thơ được xem là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Hầu như cái hình ảnh anh đầu cạo nhãn bóng của nhà sư dễ gợi nơi Nguyễn Khuyến những ý tưởng hài hước, đùa cợt. Nơi bài thơ Nôm bàn về kẻ trọc đầu, ông cũng nhắc lại hình ảnh nhà sư :

….Cũng toan tấp tếnh làm sư cụ

Nghĩ lại song mà chửa chính ngôi.

(Sđđ, tr 193)

tựu trung, đấy là một nụ cười dí dỏm, vui vẻ, bình thường, và có lẽ đã được viết lúc tác giả còn trẻ.

2. NHỮNG MẢNG TÌNH CẢM

Trong mối quan hệ của cuộc sống thường nhật, nhà thơ nông thôn của chúng ta vẫn dành những tình cảm chân thật trìu mến đối với các vị sư tăng mà ông có dịp quen biết hay gần gũi. Đây là bài thơ "Nói chuyện với sư" (Thoại tăng), tình cảm và suy nghĩ rất bình dị, chân thật :

Thiếu thời ngã học tử gia biên

Ngã vị vi quan tử vị thiền

Tự tử vân du, ngã quan khứ

Thử gian tiêu tức lưỡng mang nhiên

Bất tri xa lạp kim hà tịch ?

Dữ thị phong trần nhị thập niên

Ngã dĩ từ quan hựu cấu tử

Khán lai câu vị tĩnh trần duyên.

(Nhớ xưa tôi bác gần nhà

Tôi còn đi học, bác chưa vào chùa

Từ ngày gần Phật, gần vua

Hai bên tin tức mịt mờ cả hai

Nón xe nào biết có rày

Phong trần thoắt đã hai mươi năm trường

Nay về gặp mặt tỏ tường

Hai ta duyên nợ còn vương với đời.)

(Nguyễn Văn Tú dịch, Thơ Văn Nguyễn Khuyến Sđđ, tr 260-261)

Với bài Tránh nắng ở chùa Thanh Giang (Thanh Giang tự tỵ thử), người đọc nhận thấy cảnh vật đã được khắc họa mà tình cảm cùng những nghĩ ngợi cũng bình dị, chân thật đến cảm động :

Bất đáo Thanh Giang tự

Chí kim cơ nhị niên

Hạ nhật khổ phiền nhiệt

Phù trượng lai tham phiền

Hạc tỉnh thủy dong úng

Tân tùng chi cập kiên

Tiêu tức hữu như thị

Phủ ngưỡng đồ mang nhiên

Tự tăng kiến ngô chí

Thập quả la ngô tiền

Vị biên sắc không giới

Đàn cầu nhân thế liên

Hà xứ tiêu phong dẫn

Ngạch thủ chuyên sàng miên

Nhất chung khấu tàng mộng

Quy lai minh nguyệt thiên.

(Chùa Thanh Giang biếng ghé

Thấm thoát gần hai năm

Hè này trời nóng bức

Lại chống gậy lên thăm

Giếng cạn, nước còn vũng

Tùng non cành ngang vai

Doanh hư lẽ trởi đất

Kim cố nào ai hay.

Sư chùa thấy ta đến

Quá ngon trước mặt bày

Chưa tường cõi không sắc

Mong được người thương vay

Gió nhẹ từ đâu thoáng

Bục gạch nằm ngủ say

Chuông khua giấc mộng tỉnh

Đường về trăng sáng đầy.)

(Thơ văn Nguyễn Khuyến, Sđđ, tr.400-401,

phần dịch thơ là của chúng tôi) Hình ảnh một vị Tam nguyên, từng làm quan to ở triều đình, nay cáo quan về làng, nhân trời hè nóng nực, chống gậy lên thăm chùa, ăn vài miếng trái cây quen thuộc nơi thôn quê rồi nằm ngủ say bên bục cửa nhà chuà … là một hình ảnh rất ít có, rất đẹp trong văn học cổ điển Việt Nam. Và chúng ta, một lần nữa càng thêm trân trọng cái phong cách bình dị của Nguyễn Khuyến.

3. CẢNH CHÙA. TIẾNG CHUÔNG CHÙA

Aâm thanh quen thuộc của tiếng chuông chùa đã có một sức hút đáng kể trong cảm hứng sáng tác của Nguyễn Khuyến. Ở bài thơ vừa dẫn trên, chúng ta nhận thấy tiếng chuông tối đã làm tỉnh giấc mộng ngày hè của tác giả. Những trường hợp khác, tiếng chuông chùa khi thì xuất hiện cùng với nỗi buồn dằng dặc trong đêm thu :

Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc

Viễn sơn hà xứ hưu chung minh.

(U sầu một mối chưa tan hết

Lại tiếng chuông đưa tự núi nào.)

(Bài Tiếng đập vải đêm thu,

Nguyễn Văn Tú dịch, Sđđ, tr.209-210) Khi thì hòa với khung cảnh ban mai, gợi cho tác giả những cảm xúc :

Yên thâm lộ trọng thụ vô phong

Hà xứ thiền quan tống hiểu chung

Dư hưởng dao truyền vận đống ngoại

Hàn thanh bán trệ tuyết hoa trung…

Giá lý tinh tinh hoàn vấn chủ

Nan tương để ý thoại tăng ông.

(Sương nặng cây im khói mịt trời

Chùa đâu đưa lại tiếng chuông mai

Ngân nga vắng tự lầu mây tới

Lạnh lẽo chìm trong hoa tuyết rơi.

Tấc thành muốn hỏi ai là chủ

Khôn lẽ cùng sư tỏ khúc nhôi !)

(Bài Tiếng chuông sớm chùa Giác, Hoàng Tạo dịch, Sđđ, tr.222-223)

Lúc thì tạo nên sự hài hòa cho cảnh chiều trên sông nước nên thơ :

Sâm si vân thụ thướng lâu đài

Liêu nhiễu bình kiều tứ diện khai

Nhất tư chung sơ, tà chiếu tận

Bán gian trạo cấp hảo phong hồi.

(Cây chen mây biếc phu trên lầu

Bốn mặt quanh co mấy nhịp cầu

Trời tối, chuông vừa thưa thớt điếm

Gió quay, chèo vẫn rộn ràng mau.)

(Bài Chiều tối đi thuyền trên sông Thái,

Dương Xuân Đàm dịch, Sđđ, tr.224-225)

Nét hài hòa ấy, sẽ còn gặp trong nỗi buồn man mác trước cảnh cũ ơ Văn Miếu (Bài Cảm xúc khi đến Văn Miếu Hà Nội) :

Thập tải trùng tê cựu Giám môn

Du du tâm sự hướng thùy luân

Khuê lâu vị đoạn tiêu chung hưởng

Bích thủy do chiêu dạ nguyệt hồn ….

(Mười năm cửa Giám lại đây

Biết cùng ai đế giải bày tấc son

Lầu Khuê chuông vẫn kêu giòn

Bích Câu nước vẫn gọi hồn trăng khuya …)

(Đỗ Ngọc Toại dịch, Sđđ, tr 371-372)

Hay trong cảm xúc bồi hồi của lần nghĩ nhớ tới bạn đồng khoa cũ :

Nhất biệt xâm tầm tứ ngũ niên

Văn quân độc tọa Đội sơn điện

Vân gian cao xướng tinh thần động

Dạ bán sơ chung mộc thạch miên ….

(Bốn, năm năm trọn những xa nhau

Non Đội ông ngồi ngất đỉnh cao

Chuông lửng canh khuya say gỗ đá

Ngâm vang tầng biếc động trăng sao…)

(Bài Gởi ông Aân ở Duy Tiên, Nguyễn Văn Tú dịch, Sđđ, tr 411-412)

Hoặc trong cảnh yên vắng của buổi trưa ở vùng núi đồi, làng quê :

Dã lão vị tri chung hưởng ngọ

Phóng ngưu sơn lộc ngọa tùng miên ….

(Chuông trưa vắng tiếng người không biết

Trâu thả sườn non ngủ gốc cây….)

(Bài Nhớ cảnh chùa Đội, bài 2, tác giả tự dịch ra thơ Nôm, Sđđ, tr 410/117)

Với tiếng chuông đêm nơi thắng cảnh Ngũ Hành Sơn (bài Lên núi Ngũ Hành Sơn lưu đề) thì rõ ràng là tâm hồn của nhà thơ đã cởi bỏ mọi ưu phiền :

Tình không thạch bích sinh hàn vũ

Dạ bán chung thinh lạc nôn triều

Lãm thử giang sơn kỳ thắng tuyệt

Toạ giao khối lỗi nhất thời tiêu ….

(Trời quang, vách đá dầm hơi nước

Đêm vắng, hồi chuông rớt ngọn triều

Ngắm cảnh non sông kỳ tuyệt ấy

Nợ đời bỗng chốc chẳng còn đeo.)

(Nguyễn Văn Khoa dịch, Sđđ, tr 225-226)

Gắn liền với tiếng chuông là cảnh chùa chiền. Đây là cảnh chùa nơi núi Dục Thúy, một thắng cảnh nức tiếng của đất Ninh Bình, đã thu hút bao thế hệ khách thơ kim cổ :

Vạn cổ thanh sơn tại

Hà niên Dục Thủy danh ?

Cô thành thiên nhận lạc

Tuệ Viễn kim hà xứ

Thăng am thượng hữu minh

Tà dương hoài cổ ý

Tam lưỡng mộ cầm thanh.

(Non xanh muôn thuở xanh cao

Mà tên Dục Thủy năm nào đặt ra ?

Thành côi ngàn bậc trên xa

Ngôi chùa ven núi nhô ra nửa dòng

Tìm đâu Tuệ Viễn sư ông

Bia am Thăng Phú rêu phong vẫn còn

Chim chiều đôi tiếng véo von

Tình xưa gửi với nước non bóng tà .)

(bài Núi Dục Thúy Hoàng Tao dịch, Sđđ tr.212-213)

Chúng ta nhận thấy ở đây Nguyễn Khuyến đã từ những ghi nhận hiện tại mà gợi nhắc về quá khứ. Nơi bài thơ Nôm Thăm chùa Non Nước ông cũng đã nhắc tới cảnh cũ, người xưa :

Rừng cúc tiền triều trơ mốc thếch

Hòn câu Thái Phó táng rêu tròn ….

(Sđđ, tr 119-120)

Tiền triều là chỉ cho đời Trần, đã từng trồng nhiều hoa Cúc ở chốn này, còn Thái Phó và Thăng Phủ là chức quan cùng tên tự của danh Nho Trương Hán Siêu (?-1354). Chính ông là người đã đổi tên núi Băng sơn ra thành Dục Thúy và bài thơ ngũ ngôn bát cú "Dục Thúy sơn khắc-thạch" (Khắc đá núi Dục Thúy) của ông hầu như đã mở đầu cho mảng thơ về vịnh danh lam thắng cảnh này :

Sơn sắc chính y y

Du nhân hồ bất quy

Trung lưu quang tháp ảnh

Thượng giới khải nham phi

Phù thế như kim biệt

Nhàn thân ngộ tạc phi

Ngũ hồ thiên địa khoát

Hảo phóng điếu như ky.

(Dáng núi luôn quyến luyến

Sao người cứ mãi đi ?

Dòng sâu in bóng tháp

Hang động cửa từ bi.

Phù thế nay giã biệt

Thân nhàn, việc cũ sai

Năn hồ trời đất mở

Ngư ông thú nào tày.)

(Dẫn theo Hợp Tuyển Thơ Văn VN, tr 193, dịch thơ là của chúng tôi)

Có lẽ vì lý do ấy mà các nhà thơ đi sau, mỗi khi viết về thắng cảnh núi Dục Thúy thường hay nhắc tới họ Trường. Chẳng hạn như Nguyễn Trãi (1380-1442) đã viết :

Cánh động ngay cửa biển

Năm nào vẫn dạo rong

Hoa sen trôi mặt nước

Cõi tục nối non bồng

Bóng tháp cài trâm ngọc

Tóc mây chiếu kính sông

Nhớ xưa Trương Thiếu Bảo

Bia khắc đốm rêu phong

(Đào Duy Anh dịch, Nguyễn Trãi Toàn Tập, 1976, tr 312)

Núi Long Đội, một thắng cảnh thuộc xã Long Đội, huyện Duy Tiên (Hà Nam) trên núi có ngôi chùa cổ thật hấp dẫn đã khiến Nguyễn Khuyến sáng tác đến ba bài thơ chữ Hán Đường luật thất ngôn bát cú về cảnh đẹp của quê hương này.

Đây là những ghi nhận đầu tiên của tác giả về cảnh núi Đội qua bút pháp chấm phá của thơ Đường (Bài Vọng Long Đội sơn) :

Vô đoan bình địa xuất danh san

Lâu các sâm si lạc nhật gian

Thập lý trường đình thanh vị liễu

Bán không trị điểu quyện trì hoàn

Viễn thôn thảo thụ thâm thâm hiện

Bệnh nhãn phong trần bộ bộ gian

Hà tưởng sơn trung hữu giai thú

Vân biên tọa ngọa nhất tăng nhàn.

(Đồng bằng mọc núi lạ lùng thay

Lầu gác lô nhô bóng xế tây

Mười dặm đường dài còn vẻ biếc

Lưng trời chim mói trở chiều bay

Cây lồng xóm mạc xa xa thấy

Mắt lóa phong trần bước bước gay

Cái thú trên non chừng vẫn có

Bên mây đủng đỉnh một sư thầy.)

(Nguyễn Văn Tú dịch, Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Sđđ, tr 408-409)

Còn hai bài sau (Nhớ núi Long Đội 1, 2) thì khung cảnh cũ được tái hiện khá đậm nét kèm theo là một vài suy gẫm, và tác giả đã cố gắng tự dịch hết ra thơ Nôm :

Nhị thập niên tiền phỏng thập phương

Thử thời cảnh sắc vị tương vương

Bán không tĩnh Phạn dao tinh nhật

Lịch đại tàn bi chứng hải tang

Bình dã thiên thôn tam diện hợp

Không sơn vạn Phật nhất tăng tàng

Chí kim do trướng trường giang cấp

Nhật dạ bôn đào diệc đáo dương.

(Hai mươi năm cũ lại lên đây

Phong cảnh nhà chiền vẫn chửa khuây

Chiếc bóng lưng trời am các quạnh

Mảnh bia thưở trước bể dâu đầy

Le te nghìn xóm quanh ba mặt

Lố nhố muôn ông lẫn một thầy

Nghĩa lại bực cho dòng nước xiết

Đi đâu mà cháy cả đêm ngày.)

(Bài 1, tác giả tự dịch ra thơ Nôm, Sđđ, tr 409/116)

Cận lai suy bệnh bất than phiền

Hồi ức tiền du diệc sảng nhiên

Cổ tự tứ lân duy mộc thạch

Hàn tăng nhất tháp cộng vân yên

Kỷ tằng trúc ảnh nghi vô lộ

Hữu khách tang gian lập đãi thuyền

Dã lão vị tri chung hưởng ngọ

Phóng ngưu sơn lộc ngọa tùng miên.

(Già yếu xa xôi bấy đến nay

Làng chơi loáng thoáng lại buồn thay

Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá

Sư cụ nằm chung với khói mây

Dặm thế ngõ đâu tăng trúc ấy

Thuyền ai khách đợi bến đâu đây

Chuông trưa vắng tiếng người không biết

Trâu thả sườn non ngủ gốc cây.)

(Bài 2, tác giả tự dịch ra thơ Nôm, Sđđ, tr 410/117).

Xin được nhấn mạnh rằng, những câu thơ :

Cái thú trên non chừng vẫn có

Bên mây đủng đỉnh một sư thầy.

hoặc :

Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá

Sư cụ nằm chung với khói mây….

là những ghi nhận, những khắc họa về hình ảnh của vị sư rất đẹp, rất thanh thoát mà Văn học cổ điển Việt Nam đã có được.

4. NHỮNG KIẾN THỨC VỀ PHẬT HỌC

a. Nhận thức về tính chất vô thường :

Cũng như nhiều nhà Nho am hiểu kinh Dịch, Nguyễn Khuyến trên bước đường công danh cũng tiếp xúc, va chạm với thực tế, hẳn đã cảm nhận và thấu hiểu lẽ vô thường của vạn vật, tính chất hư ảo của kiếp người là những kiến thức bước đầu về Phật học :

Tán lai vạn sự câu trần ai

(Tính lại, muôn việc đều thành cát bụi cá)

Đó là câu kết trong bài Túy ngâm (Thơ say, Sđđ, tr 246). Còn trong bài Bài muộn (Giải buồn) ông viết :

Nhất chẩm hoàng lương chân diệc mộng

Thiên niên khứ hạc ngã hà nhân ?

(Một giấc kê vàng, sự thật cũng chẳng qua là mộng

Nghìn năm hóa hạc bay đi, thân ta là thân nào ?)

(Sđđ, tr 251-252)

hoặc :

Khả liên ngũ bách văn chương địa

Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền.

(Đáng thương cái đất vạn vật năm trăm năm trước

Nay chỉ còn lại một hòn núi đá trơ trọi).

(Bài Hồ Hoàn Kiếm, Sđđ, tr 372-373)

Tuế nguyệt xâm tầm như tạc mộng

Tỉnh thời ngấn tích liễu nhiên vô.

(Ngày tháng lững lờ như giấc mộng

Tỉnh rồi dấu vết chẳng ai hay)

(Bài Trong lúc ốm, Nguyễn Văn Tú dịch, Sđđ, tr 376)

Phong tế trần ô hà xứ lai

Nhật quang câu ảnh đệ tương thôi.

(Gió bụi từ đâu đến mịt mùng

Vó câu, bóng ác, chuyến xoay vòng.)

(Bài Cảm việc, Hoàng Tạo dịch, Sđđ, tr 384-385)

Và đây là sự thức tỉnh từ chính nơi con người mình :

Tư liên vãn tiết cân hài quyện

Bất giác nhân gian nhật nguyệt trì,

(Thương mình gân cốt hao mòn

Nào hay ngày tháng cứ vùn vụt đi.)

(Bài Cảm nghĩ ….. Độ Ngọc Toại dịch, Sđđ, tr 396-397)

b. Ngoài ra, rải rác trong một số bài thơ khác, Nguyễn Khuyến còn sử dụng một số từ ngữ Phật học quen thuộc :

- Sắc – không, pháp giới :

Thế đồ bất phục phân danh lợi

Pháp giới tòng hà kiến sắc không ?

(Đường đời chưa rõ danh cùng lợi

Cõi Phật đâu tường sắc với không.)

(Bài Tự thân, Nguyễn Văn Tú dịch , Sđđ, tr 276-277)

- Nhân quả :

Tương hiệp vô tương xai

Thần giao tín nhân quả

(Thân mật, không nghi ngờ nhau

Bạn thân giao, chắc có nhân quả.)

(Bài An ủi ông lão đá, Sđđ, tr 295-296)

- Kiếp sau :

Hoàng lương nhất chẩm mộng phục mộng

Huyền hạc thiên niên thân hậu thân.

(Một giấc hoàng lương mộng trong mộng

Ngàn năm huyền hạc thân kiếp sau.)

(Bài Ngẫu hành, Sđđ, tr 379)

Vị tri lai thế thùy vi ngã

Đáo thử phong lưu dã thị thùy ?

(Kiếp sau ai sẽ là ta nhĩ

Ai sẽ phong lưu sánh kịp ta ?)

(Bài Tự thuật, bài 2, Khương Hữu Dụng dịch, Sđđ, tr 302-302)

- Kiếp trước :

Phục chẩm bất thăng kinh tạc mộng

Hồi đầu dĩ nhược cách tiền sinh.

(Tựa gối, xiết bao nỗi kinh hoàng về giấc mộng đêm qua

Ngoảnh nhìn lại, như đã cách xa từ kiếp trước).

(Bài Nói chuyện cũ, Sđđ, tr 394).

- Tro lửa kiếp :

Độc cùng ngũ đại doanh hoàn ký

Thủy tín hàn tuyền hữu kiếp hôi.

(Đọc Doanh hoàn ký rồi sau thấy

Dưới đất vùi bao kiếp lửa hồng).

(Bài Cảm sự, Hoàng Tạo dịch, Sđđ, tr 384-385)

Tóm lại, Nguyễn Khuyến chưa có những tâm đắc sâu xa về Phật học như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm …. nhưng sự gắn bó giữa ông với một số cảnh chùa chiền thể hiện qua các bài thơ như "Tránh nắng ở chùa Thanh Giang", Nhớ núi Long Đội 1, 2, mãi mãi là những hình ảnh chân thực, sinh động, đẹp đẽ trong Văn học cổ điển Việt Nam.

Source: Tập Văn Thành Đạo (Thiền Viện VẠN HẠNH)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính