banquyen-2.jpg - 72.6 K
(Unicode fonts)

 

1). Vừa qua trên Diễn-đàn Phật-giáo có bài "Luật-bản quyền và Xiển dương Chánh-pháp" của tác giả Viên-Nhẫn. Theo đại ý của bài viết trên, thì tác giả gần như trực tiếp đặt câu hỏi đối với quý Thầy, rằng những vị Thích-tử xuất gia thì có nên dùng luật bản quyền để hạn chế việc phổ biến những kinh điển, sách truyện do quý thầy dịch ra từ nguyên tác là các kinh điển, truyện, tích từ chữ Hán, Pali, Sancrit,..… của chư Tổ và các nhà nghiên cứu Phật giáo Thế-giới sang Việt-ngữ không, mà không bao gồm những tác giả khác là những nhà văn, nhà dịch thuật, phóng tác vv…nói chung là những người bình thường như chúng ta.

Sự phân biệt rạch ròi đối tượng mà tác giả bài viết ấy đề cập tới, thì đã khá rõ ràng; nghĩa là ý ông ta chỉ muốn nhắc tới tác giả những dịch phẩm ấy là quý thầy mà thôi, và với tư cách là Tỳ-kheo, đệ tử xuất gia của Phật thì quý thầy có nên xử dụng luật bản quyền để bảo vệ quyền lợi chánh đáng về sự lao động trí óc cho mình như người thế gian hay không; cũng có nghĩa là nếu áp dụng thì đương nhiên việc quảng bá Phật pháp bị hạn chế mà không còn được phổ cập rộng rãi trong mọi tầng lớp Phật tử là người Việt-nam nữa. Ðó có thể là ý chính của bài viết trên, và câu trả lời cũng rất đơn giản là nên hay không nên giữ bản quyền mà thôi, chứ không cần phải cò kè thêm bớt gì nữa cả.

Khi đưa lên mạng hỏi quý thầy, thì cũng chính là cần đến sự góp ý của mọi Phật tử trong chúng ta vậy. Cho nên ở đây chúng ta chỉ nên đặt trọng tâm vào ý của tác giả muốn nói, là các nhà tu, quý thầy Tỳ-kheo, các đệ tử xuất gia của Phật thì có nên dùng luật bản quyền như người thế gian hay không ? Và đó cũng là câu hỏi chung cho tất cả những người tu Phật, đã, đang và sẽ đóng góp không ít thì nhiều cho việc hoàng dương Chánh pháp. Mọi người đều có quyền góp ý, và chúng tôi cũng có ý kiến của riêng mình đối với bài viết trên.

Theo thiển ý của chúng tôi, trong việc hoằng pháp, không nhứt thiết phải chỉ có quý thầy mới có thể truyền pháp được, mà mọi người tu Phật, nếu là những Phật tử chơn chánh và có căn cơ trí tuệ, có thiện duyên cứu độ vì hạnh nguyện, dùng lời hay ngoài bút của mình để có thể giúp cho những người khác cùng đi theo con đường giải thoát khổ đau phiền não của Như-lai thì ai cũng cứ nên làm. Và với những dịch phẩm, tác phẩm truyền bá giáo pháp của Như-lai mà họ đã dịch hay sáng tác, họ có quyền "giữ bản quyền" vì đó là công sức từ tim óc và sự cố gắng của họ, nên họ phải được bù đắp bằng luật bản quyền, vì như tác giả Viên nhẫn có nói, họ còn có thân, có gia đình, có nhu cầu cần phải trang trải mà không có ai khác ngoài họ có thể gánh vác những chi phí này giùm họ. Luật bản quyền, đối với những người bình thường này, mặc dù là dịch giảng kinh sách của cổ nhân, chúng ta cũng không nên đòi hỏi quá nhiều sự hy sinh của họ, vì chỉ cần thiện ý và sự lao động trí óc của họ cũng đã là sự đóng góp to lớn cho sự phát triển của Phật giáo rồi.

Còn đối với quý thầy, theo thiển ý của chúng tôi, đứng về mặt đạo đức và tâm linh mà nói, thì quý thầy không nên áp dụng triệt để luật này.

Cho nên, có hiểu được ý của tác giả bài viết này, thì sự việc cần nêu ra mới không nhập nhằng, lẫn lộn giữa những tác giả là các nhà tu và các tác giả viết và dịch sách về Phật đạo là những người bình thường như chúng ta. Tuy nhiên, nếu những Phật tử tại gia bình thường như chúng ta mà không triệt để áp dụng luật này, để văn hoá Phật giáo được truyền bá sâu rộng hơn, thì việc làm ấy của những cư sĩ ấy càng gặt hái được nhiều công đức và đáng được tán thán.

Trong bài viết của ông Viên-Nhẫn có đoạn nói : "Nếu tác giả của những quyển sách viết về Phật đạo là những người tại gia cư-sĩ, hay các nhà nghiên-cứu tôn giáo, cần có sự ràng buộc quyền và lợi bỡi những câu thắt nút như thế, thì chúng tôi không bao giờ dám đề cập tới, vì họ còn có thân, có gia đình, có nhu cầu để trang trải, dẫu sao cũng có thể châm chước được".

Qua những lời chừa kẽ như thế, rõ ràng là ông Viên-Nhẫn chỉ mong những tác phẩm dịch của quý thầy không nên giữ bản quyền, mà nên quảng bá sâu rộng đến khắp hang cùng ngõ hẽm để mọi người cùng được tắm trong vị mát của giòng suối pháp. Nếu quý thầy làm được như thế thì việc quý thầy dịch giảng những lời vàng của Thế-tôn và chư Tổ đem đến cho quý thầy vô lượng công đức đã đành, mà việc không giữ bản quyền để làm của riêng mình, đã thể hiện cái tâm từ bi thương khắp chúng sanh càng rộng lớn hơn, và công đức này càng được nhân lên gấp bội vậy.

Theo chúng tôi được biết, tủ sách lớn về Văn-hoá Phật-giáo của Việt nam trong thời cận đại, là Trí-Ðức Tùng-Thư do cụ Ðoàn-trung-Còn làm Giám-đốc, kiêm chủ biên, chủ nhiệm, và chủ bút, có sự góp sức, ủng hộ vừa tài lực và công sức của các cụ Mai-thọ-Truyền, cụ Minh-Lạc,…vv.. thì chưa bao giờ thấy sách của các cụ in ra, dịch giảng kinh điển hay sáng tác để truyền pháp mà có đề nhà xuất bản giữ bản quyền chứ đừng nói tới tác giả giữ bản quyền. Nếu không tin thì quí vị cứ lục ra xem những quyển sách cũ lúc các cụ còn sinh thời và điều hành Trí-Ðức Tùng-Thư, thì tự khắc rõ. Bổn tâm từ bi và làm lợi tha của các cụ là như thế đó, mặc dù các cụ chỉ là những cư sĩ, những thiện tri thức tu Phật tại gia. Và mặc dù Thân của các cụ tại gia, nhưng Tâm của các cụ đã hoàn toàn gởi cho Phật và đang thật hạnh hạnh cứu độ một cách chơn chánh như lời Phật dạy vậy. Và chính nhờ vào lòng từ bi, quảng đại, vì báo ơn Phật mà hoằng pháp quên mình, tự làm tấm gương sáng cho đời soi chung, tự thể hiện vô ngã của các cụ mà Phật tử chúng ta ngày ấy và cả bây giờ mới được thừa hưởng một di-sản Văn-hóa Phật giáo đồ sộ do các cụ chủ trương.

Chẳng phải lúc ấy các cụ không nghĩ là người khác cũng có thể sao chép lại những tác phẩm này, làm mất đi lợi nhuận cho cá nhân và Tùng thư Phật giáo, nhưng vì chánh kiến mà các cụ theo đuổi, cũng là mục đích tối hậu của người tu Phật là Từ-Bi-Hỉ-Xả và Lợi-Tha cứu độ nên các cụ đã không chủ trương giữ bản quyền như những nhà xuất bản khác, cũng như những tác giả khác. Mục đích mà các cụ làm là làm sao ban trải được chân lý giải thoát của Phật đến khắp mọi nơi, mọi chốn mà không nghĩ nhiều đến quyền và lợi của tự ngã giống như thế thường.

Viết đến đây chúng tôi càng thấy tấm lòng vị tha độ lượng của các cụ . Bọn hậu sanh chúng tôi ngày nay và mai sau bái phục các cụ sát đất và mãi mãi biết ơn các cụ.

Chúng tôi tán thán phẩm hạnh, đạo đức và việc làm của các cụ như thế, chẳng phải là phủ nhận thời đại ngày nay mà chúng ta đang sống, không có những người làm những việc bác-ái, vị tha như các cụ. Vì ngày nay cũng có những cư sĩ (Bí-sô, thân cận của nhà Phật) , tuy là tại gia tu hành theo Phật đạo nhưng sống một cuộc đời rất mẫu mực, tâm hằng xuất gia, hàng ngày hàng giờ gò lưng trên bàn viết để viết ra những gì mình đã nhờ pháp Phật mà được sáng tâm, sáng mắt, rời lìa phiền não khổ đau của cuộc đời, để đem những điều bổ ích ấy mà tung ra khắp bốn phương cho người khác cùng mình học hỏi, theo đó mà tu tập, chính mình thật hành hạnh nguyện tự độ và cứu độ . Nếu không phải thế thì làm sao trên khắp các trang web đầy dẫy những bài viết của các thân cận của nhà Phật mà họ không hề nhận một đồng nhuận bút nào ngoài lời tán thán và hồi hướng công đức từ các web page này. .

Lại còn có những cư-sĩ hoàn thành một tác phẩm dịch hay phóng tác, được người khác xin trích đăng hay xin phổ biến rộng rãi bằng nhiều hình thức, chẳng những họ hoan hỉ đồng ý đã đành mà còn nói lời cảm tạ và tán thán việc làm ấy của người phổ biến, chỉ với một mục đích là làm cho ai ai cũng được sáng tâm, sáng mắt như mình. Ðó mới là công đức vậy, vì công đức này chính là phước đức tánh, là bất tư nghị vậy.

2. Viết đến đây tôi nhớ ra có đọc bài viết của đạo-hữu KKT trên diễn đàn.

Ông KKT viết : "Người viết bài này theo KKT thấy cũng phạm lỗi lầm mà nhiều người mắc phải, đó là lẫn lộn lý đạo TUYỆT-ÐỐI với vấn đề THỰC-DỤNG (practical) của đời sống mà bắt lỗi".

Chắc các bạn còn nhớ chuyện Lục-Tổ Huệ-Năng làm tiều phu gánh củi nuôi mẹ, một hôm tình cờ nghe một vị tăng đọc một câu trong kinh Kim-Cang: "ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" liền hoát nhiên ngộ đạo. Nhưng sau đó thì Huệ-Năng vẫn : "Ðành rằng ưng vô sở trụ, biết rằng gánh củi nhà ai ! :-". Chẳng lẽ lại lý luận rằng vì Huệ-Năng vẫn biết căn nhà mà mình phải gánh củi đến tức là HN vẫn còn trụ tâm ?".

Chúng tôi xin trả lời cho ông KKT sáng tỏ được chỗ ngài Huệ-Năng sáng tánh Phật mà vẫn biết gánh củi tới nhà ai đó, như lời ông nói.

Thay vì ông cho rằng tác giả của bài viết "Luật bản quyền" ở trên là có chỗ lẫn lộn lý đạo Tuyệt-đối và vấn đề Thật dụng (pactical) của cuộc sống, thì lỗi người ở đâu không thấy, mà chính những lời ông nói ra đó tự nó minh chứng ông KKT mới là người lẫn lộn giữa lý và sự , không biết thế nào là chỗ trụ của tâm ý thức (giữ bản quyền) và hoạt dụng diệu mầu của tự tánh (biết chỗ gánh củi đến mà vô sở trụ). Nghĩa là chưa tự một trong thể tánh của Huệ-Năng mà bàn nói về Phật tánh mà Huệ-Năng trong ấy "đang là", nghĩa là ông chỉ dùng lý luận (bằng tâm ý thức) mà nói, chứ chưa phải tự một trong hiện thực tuyệt đối như ngài Huệ-Năng, đang đi, đứng, nằm, ngồi, uống, ăn, ngủ, nghỉ, trong chánh niệm thì làm sao thấy, nghe, hiểu, biết cho trúng được.

Trước hết, câu "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" mà Phật thuyết trong kinh Kim-Cang, và Ðức Lục Tổ khi đang gánh củi bán vừa nghe tụng thì chợt tỏ ngộ bổn tâm, sáng tỏ tánh Phật, không phải tỏ ngộ tánh này "Phật tánh" mà giữa đường quên mất đường về đâu (cũng có nghĩa là không nhớ, không biết phải giao củi, bán củi hay lấy tiền nhà ai như ông nghĩ đó đâu !).

Thưa ông KKT. Rõ bổn tâm, sáng bổn tánh cũng là ngộ tánh, thì liền thấy vạn pháp huyễn hóa, hư vọng tự như trong thể tánh chơn thật tuyệt đối; mà mình đã một trong tánh này thì cùng nó không sở không năng, hay nói cách rõ hơn, nó là mình mình là nó, năng sở chỉ một, không khác không hai. Sáng tánh này, tuy không biện sự, không dụng tâm (tâm ý thức) phân biệt vạn pháp trước mắt, nhưng tự tánh chơn thường vẫn biện biệt rõ ràng để thấy, nghe, hiểu biết tất thảy vạn pháp như thật, vì từ chơn không mà xuất sanh diệu hữu vậy; chỗ thấy, nghe, hiểu, biết ấy là dụng sự linh hoạt, nhiệm mầu của tự tánh, , chứ không phải là chỗ "thực dụng" có ý thức khởi tâm trụ chấp như ông nói trong việc giữ bản quyền.

Tánh sáng chơn thường của tự tâm hiển lộ, mà Ngài Huệ-Năng nhờ nghe tám chữ "nên không chỗ trụ mà sanh tâm này" trong kinh Kim-Cang, là "tánh sáng thường sáng" bao trùm và xuyên suốt (viên thông) cùng khắp, vô hạn lượng, tự tại, không đến đi, không chỗ dính mắc. Chứ chẳng phải chợt tỏ ngộ thì không còn biết gì cả, như người theo đạo xuất hồn, hồn lìa khỏi xác đi chu du khắp nơi mà thân thì như xác chết, nằm một chổ bất động không biết gì, như ông nghĩ đâu. Chẳng phải và hoàn toàn chẳng phải như chỗ hiểu của những người theo các phép làm xuất hồn. Hoàn toàn chẳng phải như người đang động tay múa chân, đang mắt sáng thấy rõ mọi cảnh trí trước mặt, chợt xuất hồn thì mắt liền như mù, thân như thây chết đâu. Chẳng phải vậy. Ông thấy và hiểu như vậy là tà kiến rồi.

Người thật sự ngộ tánh, thì tuy không khởi (tâm ý thức) phân biệt trụ chấp, nhưng tự tánh sáng chơn thường của Phật tâm vẫn biệt biệt rõ ràng vạn pháp; còn hễ khởi vọng trụ chấp thì tánh Phật tự lìa. Chí đến ngay chỗ chợt tỏ ngộ ấy mà sanh khởi vọng niệm, chấp mình có chỗ tỏ ngộ thì tánh sáng hằng sáng tự tại này liền lìa, mình và nó là hai là khác; dù có tự biết như thế nào thì ngay chỗ động tâm khởi ý ấy thì tánh này cũng không còn chân thật nữa vậy. Bởi với nó, thì nói không thể tới vậy. Bằng như ông KKT đưa câu "đành rằng ưng vô sở trụ, biết rằng gánh củi nhà ai" vào trong diễn đàn để bênh vực cho việc giữ bản quyền, là chính ông đã hiểu không chính xác ý nghĩa cùng cực (nói không thể tới) của câu thơ trên, là lẫn lộn giữa tâm ý thức huyễn vọng và hoạt dụng diệu mầu của tự tánh vậy. Tâm ý thức thì có chỗ trụ, như ông và các thầy đòi giữ bản quyền vậy, còn hoạt dụng của tự tánh, cũng là nghe mà thật không nghe, thấy mà thật không thấy (vì không chỗ trụ tâm), nhưng thấy, nghe, hiểu, biết rõ ràng minh bạch, làm mà như không làm (vô trụ), không chút trói buộc, dính mắc với Phật tâm, vì vô sở trụ, vì vạn pháp tự như như trong nó. Cho nên, khi Lục-Tổ ngộ tánh há không còn biết gánh củi đến nhà ai hay sao mà ông dùng lý luận của sự dụng tri thức mà đặt vấn đề với tánh thấy nghe hiểu biết. Mà đã dụng tri thức thì liền tự lìa tánh này.

Câu chuyện mà ông nêu ra đó, có chăng cũng chỉ là do người sau muốn dạy cho đệ tử mình biết, rằng dù người đã thật sự ngộ tánh thì chẳng phải là không biết đường về nhà như những kẻ rơi vào vô ký, hay như những kẻ xuất hồn thoát xác theo tà kiến; mà ngộ, cũng là ngộ, còn sự thì là hoạt dụng không trói buộc của tự tánh, nghĩa là tự tại, rổng rang, vô sở trụ, sự tương ưng, khế hợp với lý, sự lý dung thông, không chỗ ngại nhau vậy.

Nếu ông cho là Lục Tổ, mặc dù nghe kinh đã ngộ tánh, nhưng vì cần phải có cái ăn cho chính mình và nuôi mẹ nên mới đi gánh củi bán, mà ví với các Thầy cần phải giữ bản quyền để vun đắp vô minh, thì đó cũng là chỗ vì không thông tỏ lý đạo, còn tham trước sự tướng, còn trụ trên tất thảy pháp và tướng pháp của ông mà ông xô quý thầy xuống vực thẳm của trói buộc, vì hai việc Lục Tổ gánh củi bán và quý thầy tỳ kheo giữ bản quyền là hoàn toàn khác nhau vậy.

Ðó chính là chỗ sai lầm của ông KKT, nhưng cũng chẳng thể trách ông, bỡi ông còn chưa ngộ bổn tánh mà bàn về tánh, thì thế thướng chẳng phải chỉ riêng ông. Do chưa tỏ ngộ lý đạo, nghĩa là tâm còn bị trói buộc với thế pháp nên việc ông muốn quý thầy cùng chấp vào ngã pháp như ông là điều đương nhiên, không sao tránh khỏi vậy.

Cho nên, trong việc dịch kinh sách, đối với người tu Phật, không phân biệt tu sĩ hay cư sĩ, nếu đã loại trừ việc viết lách để kiếm tiền, làm lợi cho tự ngã, thì còn lại chỉ là việc tốt lành, vì báo ơn Phật, vì nhờ Pháp của Ngài mà ngày nay ta sáng mắt sáng tâm, ghi chép lại hay diễn giảng, dịch giải kinh điển là những lời Phật, Tổ chỉ dạy khi xưa để quảng bá khắp cùng thôn quê thành thị, để ai nấy đều được sáng tỏ, gần gũi với Phật tâm như mình là điều phải nên làm. Ðó là về lý. Ðằng này, khi một tác tác phẩm hoàn thành, mình lại khư khư "giữ bản quyền" làm của riêng, coi nó là máu gan tim óc của mình, như lời ông nói đó, thì tôi xin hỏi ông, đó không gọi là vị ngã, chấp ngã thì nên gọi là gì cho phải ?

Ðến "cái thân tứ đại còn giai không" huống là chút ràng buộc "chẳng có gì là thật pháp" ? Vạn Pháp đã còn không thật, thì ôm chút "bản quyền" làm của riêng, có thật chăng, có phải là đạo lý chăng ? Những người cư sĩ như chúng tôi còn không thèm làm, huống là các thầy nên giữ chặt chúng mà làm của riêng ư để tự trói buộc và chết chìm với chúng? Thật có lẽ nào như vậy ?

Do tâm ông còn quá trói buộc với các pháp trần, cứ sợ và sợ như kiểu trâu buộc ghét trâu ăn, sợ người ta bán pháp lấy tiền, sợ các thầy mất quyền lợi nên lo đi bảo vệ, giữ gìn cái của riêng ấy. Cái thân còn huyễn hoá không ra gì, huống là những lời gió thổi mây bay !

Bỡi ông còn cho là có thật pháp, có thật thân, có việc làm thật, cho những kinh sách mà các thầy dịch ra là có gía trị được đong đo bằng tiền nên ông mới cố tâm bảo vệ bản quyền cho quý thầy, mà làm giàu cho vô minh, cho tự ngã, chứ một khi ông đã sáng tâm ra liền thấy những gì mình chấp thủ trước đây chỉ là huyễn pháp mà thôi, không đáng một đồng xu. Vì đồng xu cũng chẳng thật là đồng xu, vì không chỗ so sánh. Một khi chính ông thật hiểu chúng là gì, cái gì là thể tánh tuyệt đối, chơn như, không còn không mất, không bớt không tăng thì ông không còn đặt vấn đề gì là tuyệt đối, gì là thực dụng nữa. Vì Phật pháp thì bất ly thế gian giác. Chỗ dụng ấy chỉ "một" trong thể tánh, tự không, vô tướng, vô tác, mà diệu hữu chơn thường như ông Viên Nhẫn đã nói vậy.

3). Ông KKT đưa ra nhà xuất bản nổi tiếng Pali Text Society ở tận đâu đâu làm chi, chúng tôi đâu có rành rẽ hay biết nhiều như ông. Chúng tôi chỉ biết những việc xảy ra trước mắt, nó tốt đẹp, nó hợp với hạnh tu Phật của người Việt-nam, đó là Trí-Ðức Tùng-Thư của cụ Còn và các cụ Truyền, cụ Minh-lạc đã thể hiện. Tại sao ông không biết so sánh giữa Trí-đức Tùng thư với PTS thì ai hay hơn ai, ai giúp ích cho Phật tử nhiều hơn ai, ai làm lợi lạc cho nhân loại nhiều hơn ai. Ví bằng khắp trái đất này, nhà xuất bản nào cũng làm cái kiểu "ngăn sông cấm chợ" vì lợi nhuận như PTS mà ông đã ngợi khen đó và nhà xuất bản nào cũng như Trí-đức Tùng thư thì cái cõi này sẽ sáng thêm hay tối đi thì tự biết ngay, cần gì ông phải lên diễn đàn mà dạy người cái chỗ ông chưa thông là thể tánh Tuyệt đối, để phải lầm lẫn giữa hoạt dụng của tự tánh và trói buộc của thật dụng phàm phu?.

4). Có thể là ông KKT cho rằng, nếu quý thầy không giữ được bản quyền các tác phẩm mà mình dịch thuật, hay sáng tác để xiển dương Phật pháp đó, thì quý thầy sẽ chết đói hết hay sao ? Ðó là do tâm ông còn trói buộc nên mới nghĩ về quyền và lợi giùm cho quý thầy, chứ thật sự đã là một Tỳ-kheo thì có gì dính dấp tới quyền và lợi trong này, ngoài một tình thương bao la vô vị lợi đối với chúng sanh. Bỡi nếu đã vị ngã thì hẵn các thầy đã không ly gia cát ái, từ bỏ tất cả để gia sản chỉ có ba y một bát và cái toạ cụ mà đi theo con đường giải thoát của Thế-tôn.

Lại nữa, làm sao mà quý thầy có thể đói được. Phật đã từng dạy các Tỳ-kheo đệ tử của Ngài : Người nào xuất gia tu theo hạnh Phật thì khắp cõi nhơn, thiên đều phải cúng dường cho được no ấm. Thế thì việc ông lo các thầy đói, chẳng những là việc lo bò trắng răng mà còn làm cho quý thầy mang thêm nghiệp tội nếu trót nghe theo lời xúi của ông .




bullets08.gif - 0.2 KTrang chính