TÌM HIỂU Ý NGHĨA CÂU "BẢN LAI VÔ NHẤT VẬT" TRONG BÀI KỆ CỦA LỤC TỖ HUỆ NĂNG

NGUYỄN ÐỨC QUÝ

Trong pháp bảo đàn kinh, có ghi lại bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng trình cho Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn như sau ;

"Bồ đề bản vô thụ,

Minh cảnh diệc phi đài.

Bản lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai ?"

Trong bài kệ này, câu nào cũng mang những kiến giải xuất cách. Nhưng đắt giá nhất phải kể đến câu : "Bản lai vô nhất vật". Vậy ý nghĩa của nó là gì ?

Nếu dịch nghĩa qua tiếng Việt, ta sẽ thấy ngay ý nghĩa câu văn quá rõ : "Từ xưa tới nay, chưa từng có một vật nào cả".

Tuy nhiên những người có thể hiểu ý nghĩa của câu kệ này, theo đúng bản ý của Lục Tổ Huệ Năng thật không có bao nhiêu. Thông thường người ta hiểu nó theo nghĩa : Tuyệt đối vô vật hay tuyệt đối không có gì, theo quan điểm của chủ nghĩa hư vô. Mà điều này theo tinh thần của đạo Phật, là bị rơi vào chấp đoạn kiến. Còn một số ít người, nếu có hiểu đúng được bản ý của Lục Tổ, thì lại không giải thích ; hoặc giải thích theo phong cách riêng của mình, đầy vẻ bí ẩn và khó hiểu, như truyền thống của Thiền Tông làm cho hậu thế khó mà lãnh hội nổi.

Nay tôi xin được cả gan luận giải thử .

Trước hết, ta phải khẳng định rằng : Bản ý của Lục Tổ phải phù hợp với tinh thần chung của đạo Phật. Ðó là không bị rơi vào chấp đoạn kiến, hoặc thường kiến.

Thế nào là chấp đoạn kiến ?

"Chấp đoạn kiến là một cụm từ có nhiều nghĩa. Trong trường hợp này là chấp vào tri kiến : tuyệt đối vô vật" hay tuyệt đối không có một vật gì ?

Thế nào là chấp thường kiến ?

"Chấp thường kiến là một cụm từ có nhiều nghĩa. Trong trường hợp này là chấp vào tri kiến : "tất cả các vật đang hiện hữu một cách khách quan xung quanh chúng ta đây là thực có".

Ðạo phật bác bỏ cả hai tri kiến nói trên, và khẳng định rằng : những tri kiến đó là sai lầm. Những người bị chấp vào các tri kiến đó là bị rơi vào tà kiến.

Theo đạo Phật : Ta không thể khẳng định một chiều là "có vật" hay "không có vật" được. Theo một cách hiểu, thì "có vật" là sai. Nhưng theo một cách hiểu khác "có vật" lại là đúng. Theo một cách hiểu thì "không có vật" là sai. Nhưng theo một cách hiểu khác "không có vật" lại là đúng. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu kỹ từng vấn đề một.

Tại sao ta lại nói : Theo một cách hiểu,thì có vật là sai, không có vật là đúng; còn theo một cách hiểu khác thì "có vật" lại là đúng, không có vật là sai ?

Vấn đề là ở đây ta dùng từ vật với nghĩa như thế nào ? Thông thường chúng ta hiểu danh từ "vật" bao hàm hai ý nghĩa : ý nghĩa thứ nhất nó là một thực thể có thật; ý nghĩa thứ hai nó có thể là một đối tượng bị nhận biết của ta (có tướng). Theo đạo Phật trong thực tế hoàn toàn không thể tìm được một vật nào có đầy đủ hai ý nghĩa trên. Do đó đối với đạo Phật lời khẳng định "có vật", mà "vật" được hiểu theo nghĩa đã nói ở trên là sai. Còn nếu ta nói "không có vật" trong trường hợp này lại là đúng.

Nhưng nếu ta chỉ hiểu danh từ "vật" theo nghĩa nó là một thực thể có thực, mà không phải là một đối tượng có thể bị nhận biết của ta. Trong trường hợp này, nếu ta nói "không có vật" thì sai, còn nói "có vật" lại đúng. Như vậy đúng hay sai là tùy theo cách hiểu trong từng trường hợp cụ thể chứ không thể cứng nhắc được.

Thông thường những người chấp vào tri kiến "có vật", thường hiểu nghĩa chữ "vật" theo nghĩa vừa phải là một thực thể có thực, lại vừa có tướng nên bị rơi vào sai lầm. Còn những người chấp vào tri kiến "không có vật" thường hiểu theo nghĩa là tuyệt đối vô vật, tuyệt đối không có gì, cho nên cũng bị sai lầm.

Những người thuộc nhóm thứ nhất sai lầm bởi vì họ mang một tri kiến là : Cái có thực (là thực thể) lại có thể thay đổi, biến hoại và sinh diệt. Theo đạo Phật phàm bất cứ một cái gì, mà đã được gọi là có thực, thì nó phải bất biến, không thay đổi, không biến hoại và không sinh diệt. Sự biến hoại, thay đổi, sinh diệt, chỉ diễn ra trên hình tướng, trạng thái của nó mà thôi, chứ không diễn ra trên bản thể, nghĩa là về lượng và chất được. Lượng và chất của nó phải bất biến.

Còn những người thuộc nhóm hai, họ biết được rằng tri kiến "vật có thực lại bị thay đổi, biến hoại và sinh diệt" là sai. Nhưng vì không thể tìm được một vật nào bất biến thường hằng, không thay đổi, không biến hoại, và không sinh diệt. Cho nên họ bị rơi vào chủ nghĩa hư vô, phủ nhận hiện hữu, chấp vào tri kiến "tuyệt đối vô vật, hoàn toàn chẳng có cái gì là thực cả, tất cả đều không". Trong nội dung của tri kiến đó bao hàm hai ý nghĩa :

Thứ nhất nó phủ nhận sự tồn tại của vật có thực, không thay đổi, không biến hoại và không sinh diệt, nhưng không phải làmột đối tượng bị nhận biết của ta, (không có tướng).

Thứ hai : nó phủ định những vật hiện hữu mà ta đang thấy.

Tinh thần của đạo Phật về những vấn đề này hoàn toàn khác :

Vấn đề thứ nhất : Ðạo Phật chấp nhận có một vật duy nhất trường tồn, thường hằng, bất biến : không thay đổi, không biến hoại và không sinh diệt. Nhưng theo đạo Phật thì vật này chính là TA, chính là chủ thể nhận biết, chứ không phải là một đối tượng bị nhận biết của ta. Ta không thể tìm thấy được nó, vì nó nằm ngoài giới hạn nhận biết của ta. Nó không có tướng : Ðạo Phật gọi tên nó là Chân Như, hay Pháp Thân, Như Lai v.v….

Vấn đề thứ hai : Ðối với các vật có hình tướng đang hiện hữu trên thế gian, đạo Phật không chấp nhận chúng là thực có. Bởi vì, chúng bị thay đổi, biến hoại, và sinh diệt. Nhưng đạo Phật cũng không chấp nhận tri kiến : "các vật đó tuyệt đối không có", giống như những cảnh vật xuất hiện trong mơ, như hoa đốm giữa hư không. Theo đạo Phật các vật đó là giả có, do nhân duyên hoà hợp mà thành. Bởi vì những hình tướng mà chúng ta thấy, tuy là hư vọng, như hoa đốm giữa hư không, nhưng chúng phải có nơi y cứ, có chỗ nương tựa, mới có thể hiện ra được. Chỗ nương tựa đó lại có thực, nhưng ta không thấy được nó, mà chỉ thấy được các hình ảnh gá nương vào đó mà thôi. Bởi vì chỗ nương tựa đó có thực, nên nó là một thực thể. Ðó chính là Chân Như , có thực, không thay đổi, không biến hoại, và không sinh diệt, nhưng không phải là một đối tượng bị nhận biết của ta, đã được trình bày ở trên.

Ðiều này cũng giống như khi ta xem phim. Những hình ảnh hiện ra trên màn ảnh, chúng tuy là không thật, nhưng chúng muốn hiện ra, thì phải có nơi y cứ, có chỗ tựa nương là màn ảnh mới được. Ở đây những hình ảnh hiện ra trên màn ảnh đóng vai trò của những hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy trong thế gian. Còn màn ảnh đóng vai trò của Chân Như. Nếu ta cho rằng những hình ảnh xuất hiện trên màn ảnh là thực có thì đó là một nhận thức sai lầm, tương ứng với những người chấp thường kiến. Còn nếu ta từ chỗ biết những cảnh vật đó chỉ làảo ảnh mà đi đến kết luận : Ở ngay chỗ đó (tức là chỗ cảnh vật hiện ra) tuyệt đối không có gì thì cũng sai, tương ứng với người chấp đoạn kiến. Thực ra ở đó phải có phân màn ảnh để cho các hình ảnh gá nương vào.

Tuy rằng : lúc đó ta không nhìn thấy màn ảnh mà ta chỉ nhìn thấy các hình ảnh. Nhưng nhờ nhìn thấy chúng mà ta biết chắc chắn rằng : ở chỗ đó bắt buộc phải có màn ảnh.

Cũng vậy, tuy ta không nhận biết trực tiếp được Chân Như, mà chỉ nhận biết được cảnh vật, nhưng nhờ nhìn thấy cảnh vật mà ta biết chắc rằng : ở đó bắt buộc phải có Chân Như.

Các vật mà chúng ta nhìn thấy thông thường được chúng ta chấp nhận theo nghĩa : nó là sự hợp nhất của các hình ảnh mà ta nhìn thấy, với phần Chân Như nằm trùng với không gian mà các hình ảnh đó choán chỗ. Ðạo Phật không chấp nhận các vật đó là thực có, bởi vì các hình ảnh của nó bị thay đổi, biến hoại và sinh diệt. Nhưng đạo Phật cũng không phủ định nó, vì có phần của Chân Như ở trong đó là cái có thực. Do vậy chỉ có thể nói là giả có, do duyên sinh.

Ở trên ta đã phân tích để hiểu được rõ ý nghĩa không bị rơi vào chấp đoạn kiến, hoặc thường kiến, theo quan điểm của đạo Phật. Ý nghĩa câu kệ của Lục Tổ cũng không thể rơi vào hai biên kiến đó được. Theo tôi, ý nghĩa : "từ xưa tới nay chưa từng có một vật nào cả" phải được hiểu rõ ràng như sau : "từ xưa tới nay chưa từng có một vật nào vừa là thực thể có thực, lại vừa có hình tướng". Nó không phủ định sự hiện hữu của vật có thực mà không có hình tướng là Chân Như. Nó cũng không phủ định sạch trơn những vật đang hiện hữu mà chúng ta đang nhìn thấy.

(Tạp-chí nghiên-cứu Phật học số 2/2001)



bullets08.gif - 0.2 KTrang MỤC LỤC
bullets08.gif - 0.2 KTrang chính